ANH HÙNG ĐỖ MƯỜI 10
Đỗ Mười sinh ngày 2 tháng 2 năm 1917 tại thôn Đông Phù, xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì (nay là xã Nam Phù), thành phố Hà Nội. Xuất thân trong một gia đình trung nông. Dòng họ Nguyễn Duy của ông là hậu duệ Định quốc công Nguyễn Bặc, khai quốc công thần nhà Đinh. Cha của ông tên là Nguyễn Duy Trinh, sinh được 7 người con (4 trai, 3 gái).[4] Cùng gia tộc có ông Nguyễn Thọ Chân cùng hoạt động cách mạng vào đảng cùng ngày với Đỗ Mười.[5] Năm 1936, ông tham gia Phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương (193
Đỗ Mười sinh ngày 2 tháng 2 năm 1917 tại thôn Đông Phù, xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì (nay là xã Nam Phù), thành phố Hà Nội. Xuất thân trong một gia đình trung nông. Dòng họ Nguyễn Duy của ông là hậu duệ Định quốc công Nguyễn Bặc, khai quốc công thần nhà Đinh. Cha của ông tên là Nguyễn Duy Trinh, sinh được 7 người con (4 trai, 3 gái).[4] Cùng gia tộc có ông Nguyễn Thọ Chân cùng hoạt động cách mạng vào đảng cùng ngày với Đỗ Mười.[5] Năm 1936, ông tham gia Phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936–1939).[6] Năm sau, ông tham gia Tổ chức Ái hữu thợ mỏ Hòn Gai tại Quảng Ninh. Năm 1938, ông về quê hoạt động, vào Công Hội, vận động phong trào ủng hộ Liên Xô. Tháng 6 năm 1939, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương.[7]
Năm 1941, ông bị chính quyền Pháp bắt giam và bị kết án 10 năm tù, giam tại Hỏa Lò.[8][9] Ngày 9 tháng 3 năm 1945, nhân sự kiện Nhật đảo chính Pháp, Đỗ Mười vượt ngục,[10] sau đó bắt liên lạc và tham gia Ban khởi nghĩa Tỉnh ủy Hà Đông phụ trách phong trào cách mạng huyện Ứng Hòa và Mỹ Đức.[11] Trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám, ông phụ trách khởi nghĩa tỉnh Hà Đông.[8]


