Anh hùng Lực lượng vũ trang ANH HÙNG DÂN TỘC VÕ DUY DƯƠNG
Anh hùng dân tộc Võ Duy Dương (1827 – 1866), còn được nhân dân trân trọng gọi là Thiên Hộ Dương (do giữ chức Bát phẩm Thiên hộ). Ông là thủ lĩnh kiệt xuất chỉ huy phong trào kháng Pháp tại đại bản doanh Đồng Tháp Mười (1862 – 1866). Sinh ra tại An Nhơn, tỉnh Bình Định, Võ Duy Dương vào Nam Kỳ chiêu dân lập ấp. Khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm thành Gia Định (1859) và thành Mỹ Tho (1861), ông lập tức chiêu mộ hàng ngàn nghĩa binh tham gia ứng cứu.
Ông phối hợp chặt chẽ với Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định, Thủ Khoa Huân và Phủ Cậu (Trần Xuân Hòa) đắp đồn Tân Thành (Cai Lậy), liên tục chặn đánh các cuộc tiến công của địch. Năm 1861, nhờ lập nhiều chiến công, ông được triều đình nhà Nguyễn phong hàm Chánh bát phẩm Thiên hộ. Sau khi Hòa ước Nhâm Tuất (1862) được ký kết, mặc cho triều đình bãi binh, ông vẫn kiên quyết ở lại cùng nhân dân miền Tây tiếp tục kháng chiến.
Sau khi Trương Định hy sinh (1864), Thiên Hộ Dương cùng người cộng sự đắc lực là Đốc Binh Kiều (Nguyễn Tấn Kiều) quyết định rút lực lượng về vùng Đồng Tháp Mười hiểm trở để xây dựng căn cứ lâu dài. Căn cứ chính đặt tại Gò Tháp (nay thuộc huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp). Để bảo vệ trung tâm, ông thành lập hệ thống "Ba đồn tiền tiêu" canh giữ các ngả đường thủy độc đạo. Nghĩa quân tận dụng xuồng ghe nhỏ, thông thuộc luồng lách, dùng chiến thuật "ẩn hiện bất ngờ" đánh phá các đồn bốt và các đoàn thuyền chở lương tiếp tế của Pháp. Ông chỉ đạo nghĩa quân sử dụng hầm chông, bẫy rùa, nuôi súng hỏa nông, thả ong vò vẽ và huấn luyện cả đàn trâu rừng (trâu chiến) để lao vào làm rối loạn đội hình quân địch. Nhận thấy căn cứ Đồng Tháp Mười là "cái gai trong mắt" đe dọa trực tiếp đến bộ máy cai trị Nam Kỳ, tháng 4/1866, thực dân Pháp huy động một lực lượng đông đảo gồm quân thủy – bộ, có pháo binh hỗ trợ dưới sự chỉ huy của các sĩ quan Pháp lão luyện (như De la Grandière, Brière de l'Isle) chia làm 3 mũi đồng loạt tấn công vào Gò Tháp.
Cuộc đụng độ diễn ra vô cùng khốc liệt trong suốt nhiều ngày. Nghĩa quân lợi dụng địa hình lầy lội, gài chông bẫy và dùng hỏa lực phản công dữ dội, gây cho Pháp tổn thất nặng nề (khoảng 100 quân địch chết và bị thương). Trước hỏa lực pháo binh hạng nặng của địch và nguy cơ bị bao vây cạn kiệt lương thực, Thiên Hộ Dương chủ động ra lệnh rút quân theo nhiều cánh để tránh tổn thất lớn. Sau khi rời Gò Tháp, ông tiếp tục liên kết với Trương Quyền (con trai Trương Định) và thủ lĩnh Acha Xoa (người Khmer) để mở rộng địa bàn hoạt động.
Cuối năm 1866, trên đường đi ghe ra Bắc/Huế để báo cáo tình hình và gom thêm vũ khí chuẩn bị cho cuộc chiến lâu dài, ông không may gặp nạn và hy sinh trên biển. Tấm gương kiên trung "thà làm ma nước Nam chứ không hàng giặc" của Thiên Hộ Dương đã đi vào vĩnh hằng. Tên tuổi của ông được khắc ghi trong lòng dân tộc, được thờ tự trang trọng tại Di tích Quốc gia Đặc biệt Gò Tháp.
"Sử sách sáng chói danh Thiên Hộ,
Bia miệng lưu truyền tiếng Đốc binh."
(Câu đối dân gian tại đền thờ Gò Tháp)



