ANH HÙNG MÌN GẠT TÔ VĂN ĐỰC – NGƯỜI NÔNG DÂN VÀ “CỖ MÁY PHÁ TĂNG” GIỮA ĐẤT THÉP CỦ CHI
Giữa “Đất thép” Củ Chi, Anh hùng Tô Văn Đực đã dùng trí sáng tạo và lòng dũng cảm để chế tạo vũ khí, góp phần đánh trả xe tăng, xe bọc thép của đối phương. Câu chuyện về một người nông dân trở thành người anh hùng từ lòng đất thép.

Từ người nông dân đến người lính của lòng đất
Tô Văn Đực sinh năm 1942, quê ở vùng Nhuận Đức, Củ Chi. Tuổi thơ của ông trải qua nhiều khó khăn; cha mẹ mất sớm, ông phải làm thuê, làm mướn để kiếm sống. Chính trong những năm tháng ấy, vùng đất Củ Chi đã trở thành nơi ông chứng kiến chiến tranh và sự hy sinh của những người thân, đồng bào, đồng đội.
Năm 1960, khi phong trào cách mạng ở Củ Chi phát triển mạnh, chàng trai Tô Văn Đực tham gia lực lượng du kích xã Nhuận Đức. Ban đầu, ông làm những công việc phục vụ chiến đấu, rồi được phân công vào xưởng sản xuất vũ khí của địa phương.
Đó là một xưởng vũ khí hết sức đặc biệt.
Không có máy móc hiện đại, không có nguyên vật liệu đầy đủ. Những người thợ quân giới phải tận dụng sắt vụn, mảnh bom, ống thép, đường ray và các loại vật liệu thu được từ chiến trường để chế tạo, sửa chữa vũ khí.
Tô Văn Đực vốn xuất thân là nông dân, trình độ học vấn hạn chế, nhưng ông có khả năng quan sát, mày mò và đặc biệt say mê cơ khí. Từ những dụng cụ thô sơ, ông cùng đồng đội từng bước chế tạo, cải tiến nhiều loại vũ khí phục vụ chiến đấu.
Theo Báo Quân đội nhân dân, trong khoảng hai năm, ông trực tiếp tham gia chế tạo 21 khẩu súng trường, 19 khẩu súng ngắn và một khẩu tiểu liên, trong đó có việc cải tiến súng K54 để phù hợp với nguồn đạn thu được trên chiến trường.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Khi xe tăng trở thành bài toán sinh tử
Nhưng thử thách lớn nhất đến khi quân Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa đưa ngày càng nhiều xe tăng, xe bọc thép vào các cuộc càn quét ở Củ Chi.
Trong khi đối phương có vũ khí hiện đại, lực lượng du kích địa phương lại thiếu những loại súng chống tăng chuyên dụng.
Tô Văn Đực bắt đầu suy nghĩ:
Nếu không có vũ khí hiện đại, phải tìm cách tạo ra vũ khí từ chính những thứ chiến trường để lại.
Từ một loại mìn cán mà ông được biết đến, ông bắt đầu nghiên cứu cách cải tiến để tăng hiệu quả. Sau nhiều lần thử nghiệm, ông chế tạo được loại mìn gạt.
Điểm khác biệt của loại mìn này là xe tăng không nhất thiết phải cán trực tiếp lên quả mìn. Khi xe đi ngang và tác động vào bộ phận gạt, mìn có thể phát nổ. Đây là sáng kiến được các nguồn báo chí Việt Nam ghi nhận là một trong những đóng góp nổi bật của Tô Văn Đực trong chiến tranh.
Từ đó, những bãi mìn được bố trí trên các tuyến đường mà quân địch thường cơ động.
Những chiếc xe tăng, xe bọc thép vốn được xem là phương tiện có sức mạnh lớn trên chiến trường, nay phải đối mặt với một thứ vũ khí được tạo ra từ chính điều kiện thiếu thốn của chiến trường Củ Chi.
Không chỉ chế tạo – ông còn trực tiếp chiến đấu
Điều làm nên câu chuyện đặc biệt về Tô Văn Đực không chỉ nằm ở khả năng chế tạo vũ khí.
Ông còn trực tiếp tham gia chiến đấu.
Theo Báo Quân đội nhân dân, trong những năm chiến tranh, ông trực tiếp tham gia chiến đấu và được ghi nhận tiêu diệt 13 xe tăng cùng 53 lính Mỹ.
Một nguồn của Báo Nhân Dân cũng ghi nhận hình ảnh Tô Văn Đực với thành tích “Dũng sĩ diệt cơ giới”, trong đó chú thích một ký họa năm 1967 nêu ông là người phát minh mìn gạt và được ghi nhận thành tích diệt 13 xe M113 và M118.
Những con số ấy gắn với một con người rất đặc biệt: một người nông dân Củ Chi, trong điều kiện chiến tranh khốc liệt, đã biến những vật liệu tưởng như bỏ đi thành phương tiện phục vụ chiến đấu.
Ngày 17 tháng 9 năm 1967
Những đóng góp của Tô Văn Đực nhanh chóng được ghi nhận.
Ngày 17/9/1967, tại Đại hội Liên hoan Anh hùng, dũng sĩ diệt Mỹ lần thứ II toàn miền Nam, ông được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Khi ấy ông mới khoảng 25 tuổi.
Báo Nhân Dân cũng ghi nhận trước đó ông đã được tặng các danh hiệu như “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Dũng sĩ diệt cơ giới”, “Dũng sĩ diệt xe tăng”.
Từ đó, cái tên “Anh hùng mìn gạt” gắn với Tô Văn Đực và trở thành một câu chuyện tiêu biểu về cuộc chiến đấu của quân dân Củ Chi.


