ANH HÙNG NÚP – NGƯỜI CON CỦA ĐẠI NGÀN TÂY NGUYÊN
Anh hùng Núp (tên thật Đinh Núp) là một trong những biểu tượng tiêu biểu của đồng bào Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Từ một người con của núi rừng Ba Na, ông đã trở thành linh hồn của phong trào vũ trang làng Stơr, góp phần viết nên bản anh hùng ca bất khuất của đại ngàn. Cuộc đời ông là hiện thân của lòng yêu nước, tinh thần cộng đồng và ý chí quật cường không khuất phục trước cường quyền.
Có những con người khi nhắc đến, ta không chỉ nhớ về những chiến công, mà còn nhớ về một nhân cách. Cố Đại tá Tô Quyền là một con người như thế. Nhắc đến ông, lòng người Xuân Cầu – Nghĩa Trụ – Văn Giang – Hưng Yên lại dâng lên niềm tự hào xen lẫn xúc động. Bởi cuộc đời ông không chỉ là hành trình của một chiến sĩ cách mạng, mà còn là hành trình của một trái tim suốt đời tận hiến cho Tổ quốc và nhân dân.
Sinh ra trên quê hương Xuân Cầu giàu truyền thống yêu nước, ông lớn lên trong bầu không khí sục sôi của phong trào cách mạng trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Khi tuổi đời còn rất trẻ, ông đã được tổ chức tin tưởng giao nhiệm vụ thành lập và phụ trách Đội Thiếu nhi cứu quốc làng Xuân Cầu vào ngày 19/5/1945. Đó không chỉ là một tổ chức dành cho thiếu nhi, mà là nơi gieo những hạt mầm đầu tiên của lý tưởng cách mạng. Dưới sự dìu dắt tận tình của ông và các đồng chí, những đội viên nhỏ tuổi đã làm liên lạc, rải truyền đơn, đứng gác cho cán bộ hoạt động bí mật, tiếp tế cho du kích, đan áo gửi chiến sĩ nơi tiền tuyến. Ông tổ chức những buổi sinh hoạt đội với ca hát, cắm trại, đồng diễn… để nuôi dưỡng tinh thần yêu nước trong lòng các em. Năm 1946, Đội Thiếu nhi cứu quốc Xuân Cầu giành giải nhất hội thi cắm trại tại Bắc Ninh – một thành tích nhỏ nhưng mang ý nghĩa lớn, bởi đó là chiến thắng của niềm tin và tinh thần cách mạng trong lòng tuổi thơ.
Cuối năm 1946, ông cùng đồng chí Nguyễn Văn Cẩn được cử lên công tác tại Bắc Ninh, hoạt động trong vùng địch hậu đầy hiểm nguy. Làm người cộng sản giữa vòng vây kẻ thù đồng nghĩa với việc chấp nhận đối mặt với tù đày, tra tấn, thậm chí cái chết. Nhưng ông không hề nao núng. Người ta vẫn kể câu chuyện ông đi bộ vượt qua nhiều trạm gác để kịp dự đám cưới của đồng chí với một “niêu cơm Thạch Sanh” giản dị mà chan chứa nghĩa tình. Trong những năm tháng ấy, lý tưởng lớn hơn sự an nguy của bản thân, và ông đã sống trọn với lý tưởng ấy bằng tất cả sự kiên trung.
Năm 1965, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn cam go, ông lên đường vào Nam, lấy bí danh Tô Lâm. Ông đến với Tây Ninh – căn cứ Trung ương Cục miền Nam – nơi bom đạn Mỹ ngày đêm trút xuống. Công tác an ninh giữa chiến trường không chỉ là đối đầu bằng vũ khí, mà còn là cuộc đấu trí căng thẳng với biệt kích, gián điệp. Sự sống và cái chết nhiều khi chỉ cách nhau một nhịp thở. Có lần ông ốm nặng, địch ném bom bất ngờ, cô Hai Lãnh – người thư ký, liên lạc – đã kịp đẩy ông xuống hầm rồi ngồi chắn bên ngoài. Hình ảnh ấy khiến ta hiểu rằng giữa khói lửa chiến tranh, tình đồng chí là điều thiêng liêng nhất. Ở chiến trường, ông được gọi thân thương là “Anh Tư”. Những lá thư ông gửi về cho vợ – bà Đặng Thị Cam – không chỉ là nỗi nhớ gia đình, mà còn là lời nhắn gửi niềm tin vào ngày toàn thắng. Khi ông vào Nam, cô con gái út còn chưa chào đời. Những hy sinh thầm lặng ấy không ồn ào, nhưng lặng lẽ khắc vào lịch sử bằng nước mắt và niềm tin.
Ngày 30/4/1975, đất nước thống nhất, ông tiếp tục ở lại miền Nam truy quét tàn quân, xây dựng lực lượng Công an tại vùng mới giải phóng. Năm 1977, ông trở về miền Bắc nhưng không nghỉ ngơi. Ở bất cứ cương vị nào – từ Trưởng Công an huyện, Phó Ty Công an tỉnh, Phó Ban An ninh Tây Ninh, Giám đốc Ty Công an Hải Hưng đến Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông, Cục trưởng Cục V26 – Bộ Công an – ông vẫn giữ phong thái điềm đạm, tận tụy, hết lòng vì dân. Khi đã 62 tuổi, sức khỏe không còn như trước, ông vẫn vui vẻ nhận nhiệm vụ mới với mong muốn giáo dục, cảm hóa những con người lầm lỗi trở về với cuộc đời. Ở ông, người ta thấy rõ một phẩm chất cao đẹp: lòng nhân hậu.
Ngày 18/11/1996, ông ra đi, để lại niềm tiếc thương sâu sắc. Những đồng chí từ Tây Ninh lặng lẽ ra Bắc tiễn biệt người anh, người chỉ huy năm xưa. Năm 2015, Chủ tịch nước ký quyết định truy tặng ông danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Nhưng trước khi được trao tặng danh hiệu ấy, trong lòng nhân dân, ông đã là một “Anh hùng tình cảm”.
Quê hương Nghĩa Trụ vốn là mảnh đất giàu truyền thống, nơi sinh ra những con người ưu tú như Tô Hiệu, Lê Văn Lương, Nguyễn Công Hoan, Tô Ngọc Vân. Trong dòng chảy ấy, Tô Quyền lặng lẽ góp phần làm rạng danh quê hương bằng một cuộc đời trọn vẹn cống hiến.
Thắp nén hương tưởng nhớ ông, ta không chỉ tưởng nhớ một người anh hùng, mà còn tưởng nhớ một nhân cách lớn: trung thành, bản lĩnh, nhân ái và thủy chung. Đọc về ông, ta thấy lòng mình tự hào. Nghĩ về ông, ta thấy mình phải sống xứng đáng hơn. Bởi có những con người đã dành trọn cuộc đời cho Tổ quốc – để hôm nay chúng ta được sống trong hòa bình, được ngẩng cao đầu mà nói hai tiếng thiêng liêng: Việt Nam.


