Bài viết

Anh hùng Phan Bội Châu

Hải Phòng23/01/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Phan Bội Châu lấy bút danh là Hải Thụ, sau này ông đổi thành Sào Nam. ngoài ra ông còn một số hiệu khác như Thị Hán, Phan Giải San, Sào Nam Tử, Hạo Sinh, Hiếu Hán... Phan Bội Châu hoạt động trong thời kì Pháp thuộc, là một danh sĩ và là nhà cách mạng Việt Nam.
Phan Bội Châu sinh ra trong gia đình có bố là ông Phan Văn Phổ, mẹ là bà Nguyễn Thị Nhàn. Từ khi còn nhỏ ông đã nổi tiếng là thông minh, sáng dạ, năm ông 6 tuổi, ông học trong vòng 3 ngày thuộc được hết Tam Tự Kinh, năm 7 tuổi ông đã đọc và hiểu được sách Luận Ngữ, ông thi đỗ đầu của huyện năm ông 13 tuổi. Phan Bội Châu đã có lòng yêu nước ngay từ khi còn nhỏ. Năm 17 tuổi để hưởng ứng việc Bắc Kỳ khởi nghĩa chống Pháp ông đã viết bài " Hịch Bình Tây Thu Bắc" mang dán ở cây đa đầu làng. Năm 1885 lúc đấy ông 19 tuổi, đội Sĩ Tử Cần Vương chống Pháp đã được lập ra do Phan Bội Châu cùng với bạn ông là Trần Văn Lương, đội được hơn 60 thành viên, nhưng bị quân Pháp kéo tới khủng bố nên phải đội đành phải giải tán.
Do hoàn cảnh gia đình nghèo khó nên Phan Bội Châu đã phải dạy học để mưu sinh, và ông đã học để thi. Năm 1897, khoa thi được mở ra, Phan Bội Châu đã đứng thứ nhì trong cuộc thi, nhưng do bạn ông là Trần Văn Lương cho mấy cuốn sách vào áo khi ông không hề hay biết nên ông bị phạt tội mang văn tự vào trong áo và bị phạt suốt đời không được dự thi.
Sau khi bị án, ông đã chuyển vào Huế để tiếp tục công việc dạy học, ông được các quan mến mộ và xin vua Thành Thái xóa án cho ông. Nhờ đấy, vào năm 1900 khoa thi hương tiếp theo được mở ra, ông đã đỗ trạng nguyên ở trường thi Nghệ An.
Sau khi thi đỗ trạng nguyên trong 5 năm ông đã đi khắp Việt Nam để kết nối với các nhà yêu nước khác. Năm 1904, Phan Bội Châu cùng Nguyễn Hàm và 20 đồng chí khác lập nên " Duy Tân Hội" ở tỉnh Quảng Nam nhằm đánh đuổi Pháp.
Năm 1905, Phan Bội Châu cùng một số đồng chí đã sang Trung Quốc và Nhật bản để cầu hai nước giúp hội đánh đuổi quân Pháp. Tại đây, ông đã được một nhà cách mạng khuyên nên dùng thơ văn để thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân.
Năm 1905, Phan Bội Châu cùng Đặng Tử Kính đem cuốn sách " Việt Nam Vong Quốc Sử " về nước, và sau đó tại Hà Tỉnh, Phan Bội Châu cùng các đồng chí chủ chốt trong hội đã bàn và đưa ra kế hành động là nhanh đưa Kỳ Ngoại hầu Cường Để ra nước ngoài, lập các hội nông, buôn, học để nhằm tập hợp quần chúng và tài chính cho hội, ngoài ra còn tuyển ra một số thanh niên giỏi giang, thông minh, ham học, chịu gian khổ để đưa sang nước ngoài học tập. Phan Bội Châu và Nguyễn Hàm được giao cho nhiệm vụ đưa các thanh niên sang nước ngoài ở đây họ đã lập nên phong trào Đông Du và được rất nhiều người tham gia và ủng hộ,
Phan Bội Châu cùng các đồng đội không ngừng luyện tập để chuẩn bị cho kế hoạch phục quốc.
Tháng 3 năm 1909, Pháp và Nhật cấu kết với nhau nên tổ chức đông du của ông bị tan rã, Phan Bội Châu bị chính phủ Nhật truy lùng và phải sang Trung Quốc ẩn náu.
Tháng 10 năm 1910, ông cùng 50 học sinh đã " Gieo Hạt Giống Cách Mạng" ở nơi non xanh nước biếc tại Xiêm.
Tháng 1 năm 1912, ông từ Xiêm trở về Trung Quốc để giải tán Duy Tân hội, tháng 6 năm 1912 ông đã lập " Việt Nam Quang Phục Hội" mục đích là hoạt động chống Pháp theo con đường dân chủ tư sản.
Tháng 8 năm 1912, ông thành lập hội " Chấn Hưng Hoa Á" để hỗ trợ cho Việt Nam Quang Phục Hội. Phan Bội Châu bị bắt và nhốt tại nhà tù ở Quảng Châu Trung Quốc sau khi định giết Toàn quyền Đông Dương và bọn tay sai của Pháp nhưng không được. Sau khi ra tù ông vẫn mang trong mình nhiệt huyết đấu tranh nên ông vẫn ở lại Trung Quốc.
Năm 1917, khi chiến tranh thế giới sắp kết thúc ông đã tìm hiểu về cách mạng tháng mười, và viết sách ca ngợi Lê Nin vĩ đại.
Năm 1925, ông bị thực dân Pháp bắt cóc tại Trung Quốc, bị giam tại Hỏa Lò Hà Nội và sau đó bọn chúng định tử hình ông nhưng nhân dân đã đứng lên nên chúng đã đưa ông về giam lỏng tại Huế.
Ngày 29 tháng 10 năm 1940 Phan Bội Châu đã vĩnh biệt nhân dân ra đi. Trước lúc lâm chung ông đã gửi những lời nhắn nhủ, niềm hi vọng vào cách mạng Việt Nam.
Thời kỳ hoạt động cách ông đã dùng văn chương để khơi dậy lòng yêu nước trong dân, căm thù giặc những tác phẩm cách mạng như:

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn