Anh hùng Phan Đình Giót
han Đình Giót sinh năm 1922 tại Xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, tuổi thơ ông lớn lên trong cảnh đói nghèo và nước mất vì thế đã hun đúc trong ông lòng yêu Nước bền bỉ và ý chí kiên cường. Khi Tổ Quốc bị xâm lăng, ông đã lựa chọn khoác lên mình àu áo lính gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam.
1. Họ và tên đầy đủ của Anh hùng: Phan Đình Giót
2. Năm sinh/năm mất của Anh hùng: 1922-1954
3. Phân loại nhân chứng: Liệt sĩ
4. Ảnh chân dung Anh hùng:
5. Quê quán của Anh hùng: Xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
NỘI DUNG TÁC PHẨM
“Cái chết không làm cho con người ta vĩ đại nhưng lựa chọn hy sinh trước cái chết thì có”. Người Anh hùng này đã chứng minh cho câu nói ấy
Phan Đình Giót sinh năm 1922 tại Xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, tuổi thơ ông lớn lên trong cảnh đói nghèo và nước mất vì thế đã hun đúc trong ông lòng yêu Nước bền bỉ và ý chí kiên cường. Khi Tổ Quốc bị xâm lăng, ông đã lựa chọn khoác lên mình àu áo lính gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Năm 1950, Phan Đình Giót được phân về Đại đoàn 312 – đơn vị chủ lực nổi tiếng gan dạ. Ông luôn xung phong nhận những nhiệm vụ khó khăn về mình, sự lặng lẽ của người Anh hùng này đã dẫn ông đến khoảnh khắc quyết định của cuộc đời mình. Khi chiến dịch Điện Biên Phủ được phát động năm 1954, anh là một trong những chiến sĩ đầu tiên đăng ký tham gia trận đánh “sống còn” này.
Ngày 13/3/1954, quân ta nổ súng mở màn chiến dịch. Đồi A1 là điểm cao cực kỳ quan trọng, được Pháp bố trí hoả lực dày đặc. Đại đội 58 lao lên như một mũi tên. Giữa mịt mù khói pháo, tiếng gầm rú của đạn moóc-ti-ê và ánh chớp lửa chát chúa, cứ điểm Him Lam như một con quái vật khổng lồ đang cựa mình, khạc ra những luồng đạn đỏ rực. Nhưng ngay khi xung kích ta áp sát chân đồn, từ lô cốt số 3 của địch, hỏa lực trung liên bắn ra như mưa. Đạn đan thành lưới lửa, găm xối xả xuống sườn đồi. Nhiều chiến sĩ ngã xuống. Toàn đội bị chặn đứng ngay trước cửa ngõ chiến thắng. Trong ánh lửa chiến trường chớp tắt, Phan Đình Giót quặn người lại. Một luồng đạn bắn trúng vai và đùi anh. Máu tuôn ra ướt đẫm áo trấn thủ, ngấm vào lòng đất Điện Biên. Anh thấy mắt mình mờ đi vì mất máu, nhưng tai vẫn nghe rõ tiếng súng địch đang tàn phá đội hình của đại đội.
"Không thể để đồng đội hy sinh thêm nữa!" – ý nghĩ ấy lóe lên trong đầu, mạnh mẽ hơn cả nỗi đau thể xác. Bằng một nghị lực phi thường, Phan Đình Giót không lùi lại.
Anh dùng một tay và hai chân còn lành lặn, nhích từng chút một, trườn qua những xác pháo, áp sát vách lô cốt. Mỗi mét đất lúc này đều nhuốm máu. Khi chỉ còn cách họng súng địch vài bước chân, anh dồn hết chút sức lực cuối cùng, nâng khẩu súng tiểu liên lên bắn kiềm chế, rồi dùng quả lựu đạn cuối cùng ném thẳng vào lỗ châu mai.Một tiếng nổ vang lên. Lô cốt địch im bặt trong vài giây ngắn ngủi. Nhưng rồi, luồng đạn quỷ quái ấy lại tiếp tục khạc lửa.Lúc này, Phan Đình Giót đã kiệt sức. Anh không còn vũ khí, cũng không còn bom đạn. Phía sau anh, đồng đội đang chờ để xung phong. Giữa lằn ranh sinh tử của cả trận đánh, người chiến sĩ trẻ ấy đã có một quyết định bất tử. Anh lấy đà, rướn thẳng người lên, dùng chính ngực và thân mình áp chặt vào lỗ châu mai.
Xoạch! Tiếng súng bên trong lô cốt nghẹn lại. Ánh lửa đạn sặc sụa bị dập tắt hoàn toàn bởi tấm thân lực lưỡng của người anh hùng quê Hà Tĩnh.
Trong khoảnh khắc thiêng liêng ấy, chiến trường như lặng đi một nhịp, rồi bùng nổ. "Phan Đình Giót đã hy sinh! Trả thù cho anh Giót! Xung phong!" – tiếng hét vang dội cả núi rừng. Lớp lớp chiến sĩ như những con sóng triều dâng, vượt qua hỏa điểm đã câm lặng, lao thẳng vào tiêu diệt toàn bộ cứ điểm Him Lam.Phan Đình Giót ngã xuống ở tuổi 32, khi bình minh của chiến thắng Điện Biên Phủ vừa kịp ló rạng qua màn khói lửa. Thân xác anh đã hòa vào đất mẹ, nhưng ngọn lửa từ trái tim quả cảm của anh thì còn cháy mãi, rực rỡ và bất tử như hoa lửa giữa đêm dài chiến tranh.
Hành động lấy thân mình bịt lỗ châu mai của Anh hùng Phan Đình Giót là một biểu tượng bất tử cho tinh thần "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" của dân tộc Việt Nam. Quyết định rướn mình áp ngực vào họng súng đang khạc lửa của ông không chỉ dập tắt hỏa lực địch, cứu sống hàng trăm đồng đội, mà còn thổi bùng ý chí chiến đấu kiên cường, giúp quân ta tiến lên giành chiến thắng vang dội tại cứ điểm Him Lam. Sự hy sinh anh dũng ở tuổi 32 ấy là minh chứng thế hệ cha anh đã đặt vận mệnh đất nước lên trên mạng sống của chính mình, nhắc nhở chúng ta về giá trị thiêng liêng và cái giá cực kỳ đắt của hai chữ "hòa bình".
Đối diện với tượng đài lòng quả cảm ấy, thế hệ trẻ hôm nay luôn mang lòng biết ơn vô hạn và niềm tự hào sâu sắc. Niềm tri ân ấy không chỉ dừng lại ở những đóa hoa dâng lên đài tưởng niệm, mà phải được chuyển hóa thành hành động: sống có lý tưởng, nỗ lực học tập và làm việc có ích để giữ gìn độc lập và dựng xây đất nước ngày càng giàu đẹp.



