ANH HÙNG TÁM THANH LÊ
Mỗi khi nghĩ đến Trung tướng Lê Thanh, tôi lại liên tưởng đến cây đước vùng đất bồi bờ biển Nam Bộ. Cây đước tuy da vỏ sần sùi, cành lá khẳng khiu, nhưng bộ rễ cứng cáp, dẻo dai cắm xuống sình lầy, chắt lọc từng hạt phù sa đắp bồi nên đồng bằng sông Cửu Long. Dù cho bão tố, sóng lừng, cây đước vẫn bám trụ đất mẹ, không hề lay chuyển. Cũng như cây đước, anh thanh niên Lê Văn Dọn (tên khai sinh của đồng chí Lê Thanh) đã bám trụ ba mươi năm ròng trên mảnh đất quê hương Nam Bộ.
Suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ông lăn lộn trên chiến trường, lúc ở vùng sình lầy rừng Sác, lúc ở chiến khu Dương Minh Châu, hết ở Gò Vấp lại lên căn cứ Xứ ủy ở Tây Ninh. Người chiến sĩ ấy quần lộn với đủ sắc lính Pháp và Mỹ - ngụy, luôn luôn cầm súng đứng ở tuyến đầu. Lòng yêu nước tạo nên tố chất dẻo dai, bền bỉ, vun đắp ý chí chiến đấu, lòng dũng cảm và tình thương yêu nhân dân, thương yêu đồng đội vô bờ bến.
Mỗi khi nghĩ đến Trung tướng Lê Thanh, tôi lại nghĩ đến cây tầm vông, một loại tre đặc sản vùng quê ông, huyện Gò Vấp. Loại thân cây mảnh mà cứng, vót nhọn được dùng làm vũ khí giết giặc.
Trung tướng Lê Thanh (tên khai sinh là Lê Văn Dọn), sinh ngày 10/7/1925, quê quán Phú Thọ Hòa, huyện Gò Vấp, tỉnh Gia Định cũ, nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh.
Anh thanh niên Lê Văn Dọn trước khi trở thành Đại đội trưởng thuộc Chi đội vũ trang F2, rồi Huyện đội phó Gò Vấp, đã lên đường đánh giặc Pháp từ ngày 23/9/1945 bằng cây tầm vông nhọn sắc. Như có phép thần thông của Thánh Gióng, phẩm chất của cây đước, cây tầm vông đã hun đúc bản lĩnh của anh nông dân Lê Văn Dọn thành vị Trung tướng Lê Thanh, đạp lên đầu xe tăng M48, pháo "vua chiến trường", vượt qua bom B52 của đế quốc Mỹ, để trở về giải phóng Sài Gòn ngày 30/4/1975. Cuộc đời ông là điển hình của cuộc đời "Bộ đội Cụ Hồ" trên mảnh đất Thành đồng Tổ quốc. Thời chống Mỹ, chức vụ cao nhất mà ông đảm nhiệm là Ủy viên Ban An ninh Trung ương Cục, kiêm Chỉ huy trưởng lực lượng An ninh vũ trang miền Nam. Chức danh theo biên chế hồi bấy giờ là Trưởng Tiểu ban An ninh vũ trang, thuộc Ban An ninh miền.
Chiến sĩ An ninh vũ trang! Những tiếng ấy vang lên từ thời chống Mỹ ở miền Nam với niềm tự hào vô hạn của những người làm công tác bảo vệ Đảng, những chiến sĩ Cận vệ suốt hai mươi năm xông pha lửa đạn, đảm bảo an toàn cho những cán bộ lãnh đạo của Đảng.
Chiến sĩ An ninh vũ trang! Những tiếng ấy gợi lên nỗi kinh hoàng cho bọn ác ôn, cả Mỹ lẫn ngụy, dù chúng ẩn náu trong các hang ổ, nằm sâu trong các thành phố, hay trà trộn giữa bộ máy kìm kẹp dày đặc ở thôn ấp.
Lực lượng An ninh vũ trang bảo vệ Đảng đầu tiên có hai Đại đội 60, 80, được thành lập ở Trảng Bàng, Tây Ninh năm 1955. Ngoài nhiệm vụ bảo vệ Trung ương Cục, những đơn vị này còn bảo vệ cơ quan Trung ương của đảng Bạn, Campuchia. Sau hai năm phụ trách giao liên miền Đông, từ tháng 9/1955, đồng chí Lê Thanh được cử đi xây dựng lực lượng và căn cứ cho Xứ ủy Nam Bộ. Các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Hùng trực tiếp giao nhiệm vụ cho đồng chi Lê Thanh nắm lực lượng Bình Xuyên, hướng dẫn một bộ phận lực lượng này lên chiến khu Bà Rá, tạo thành lực lượng dự bị của cách mạng. Đồng chí Lê Thanh hoàn thành nhiệm vụ, được đồng chí Phạm Hùng biểu dương.
Năm 1957, Xứ ủy Nam Bộ được thành lập. Tháng 8/1957, lực lượng An ninh vũ trang bảo vệ Đảng toàn miền được thống nhất vào một mối chỉ huy. Ban phụ trách gồm có ba đồng chí là Tám Xuyến, Lâm Quốc Đăng và Lê Thanh. Từ đó, đồng chí Lê Thanh đảm nhiệm chức danh chỉ huy phó lực lượng vũ trang bảo vệ căn cứ Xứ ủy Nam Bộ. Những chuyến công tác của đồng chí Bí thư Xứ ủy Nguyễn Văn Linh từ miền Đông sang miền Tây, dù hành trình cực kỳ gian nan nguy hiểm, nhưng đã được bảo vệ tuyệt đối an toàn.
Trước ngày đồng khởi và trong những năm tháng chưa thành lập Quân giải phóng miền Nam, Việt Nam, Xứ ủy được giao cho các lực lượng An ninh bảo vệ. Ngoài nhiệm vụ bảo vệ căn cứ, bảo vệ cấp ủy, còn có nhiệm vụ diệt ác phá kềm và thực hành tác chiến nhỏ để bảo vệ mục tiêu, đồng thời nâng cao trình độ quân sự, chuẩn bị cho những hoạt động vũ trang sau này.
Trận thử sức đầu tiên là trận tập kích vào Chi khu quân sự Dầu Tiếng, tỉnh Tây Ninh, ngày 11/10/1958, đồng chí Lê Thanh được giao nhiệm vụ chỉ huy. Lực lượng tấn công có 2 Đại đội 80 và 90 do các đồng chí Sáu Huấn và Tư Nguyện chỉ huy cùng một đơn vị đặc công là Đại đội 60 hỗ trợ. Địch có 2 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn BB3, quân ngụy Sài Gòn. Sáng ngày 11, ta nổ súng tấn công. 30 phút sau ta làm chủ Chi khu, diệt gần 200 tên, bắt sống 30 tên, cứu được 10 người bị địch giam giữ. Đơn vị dùng xe tải của địch, chở chiến lợi phẩm về căn cứ. Ngoài tiền quỹ hàng triệu đồng của Chi khu quân ngụy, đơn vị còn thu được nhiều vũ khí. Trong số vũ khí chiến lợi phẩm, Xứ ủy chủ trương giữ lại súng tự động và vũ khí đủ trang bị cho một tiểu đoàn, còn hàng trăm súng trường được phân phối cho các tỉnh miền Đông Nam bộ. Trận Dầu Tiếng là trận đầu tiên đánh vào Chi khu quân sự địch trên chiến trường miền Nam trước ngày đồng khởi.
Trong cuộc đồng khởi của nhân dân miền Nam những năm 1959-1960, các đơn vị An ninh vũ trang bảo vệ căn cứ của Xứ ủy, cùng với nhân dân Tây Ninh lập thêm một chiến công vang dội. Đó là trận tập kích vào vị trí đóng quân của một trung đoàn địch ở Tua Hai nằm trên Tỉnh lộ 22, phía Bắc thị xã Tây Ninh. Đồn địch cách căn cứ cách mạng 30km nhưng chỉ cách đơn vị bảo vệ vòng ngoài của ta 1km. Trận đánh diễn ra đêm 28 Tết, xuân Canh Tý năm 1960, vào đúng thời điểm địch chuẩn bị cho một cuộc càn quét lớn vào căn cứ của Xứ ủy. Chỉ huy trận này là hai đồng chí Mai Chí Thọ và Lê Thanh. Lúc thông qua kế hoạch tác chiến, đồng chí Bí thư Xứ ủy hỏi đồng chí Lê Thanh:
- Địch có một trung đoàn, so sánh lực lượng giữa ta và địch rất chênh lệch, vậy làm thế nào để dứt điểm?
Đồng chí Lê Thanh trả lời:
- Tiếng là địch có một trung đoàn, nhưng chúng bố trí phòng ngự có nhiều sơ hở, không liên hoàn. Ta bất ngờ đột nhập tung thâm rồi từ trong đánh ra, khả năng dứt điểm khá chắc.
Trận ấy, quân ta đột nhập vào Chỉ huy sở trung đoàn của địch, từ đó đánh ra. Quân ta làm chủ căn cứ Tua Hai suốt đêm 28 Tết. Hàng trăm tên lính ngụy bị diệt tại chỗ. Vũ khí thu được ở Tua Hai gồm có ba ngàn khẩu súng cá nhân, 4 cây DKZ, 300 khẩu súng lục và nhiều súng cối. Ta sử dụng 10 xe tải của địch chở chiến lợi phẩm về căn cứ. Đồng chí Lê Thanh bị thương trong trận này. Tổng kết trận đánh, một lần nữa đồng chí Bí thư Xứ ủy Nguyễn Văn Linh khen ngợi đơn vị đã có lối đánh táo bạo, thể hiện rõ quyết tâm chấp hành chỉ thị của cấp ủy là đánh địch để bảo vệ căn cứ. Số vũ khí ta thu được trong trận Tua Hai là nguồn bổ sung kịp thời cho các tỉnh ở Nam bộ để tăng cường áp lực vũ trang, hỗ trợ cho các cuộc đồng khởi ở địa phương.
39 năm sau trận Tua Hai, ngày 24/12/1999, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 và Tỉnh ủy Tây Ninh tổ chức cuộc hội thảo khoa học về trận thắng vang dội này. Tên tuổi Trung tướng Lê Thanh, người chỉ huy mưu trí dũng cảm trong trận này đã được các đại biểu tôn vinh.
Tháng 12/1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời. Đồng chí Lê Thanh được bầu vào ủy ban Trung ương Mặt trận, với tư cách là một đại diện của lực lượng vũ trang miền Nam, Việt Nam. Cũng trong năm 1960, hội nghị Trung ương Cục lần thứ nhất đã quyết định thành lập Ban An ninh Miền. Năm 1964, xây dựng Tiểu đoàn An ninh vũ trang hoàn chỉnh. Tháng 10/1964, Trung ương Cục thành lập Trung đoàn 70 trực tiếp bảo vệ Trung ương Cục; đồng chí Lê Thanh được bổ nhiệm làm Trung đoàn phó, sau lên Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy. Tháng 9/1974, đồng chí Lê Thanh được bổ nhiệm chức danh Ủy viên Ban An ninh Trung ương Cục, kiêm Chỉ huy trưởng lực lượng An ninh vũ trang miền Nam.
Mùa xuân năm 1975, sau chiến thắng Phước Long, tiếp đến là chiến dịch giải phóng Tây Nguyên thắng lợi, Trung ương Cục chủ trương tạo thế cho những hoạt động quân sự lớn tiếp theo, tích cực mở rộng vùng căn cứ giải phóng. Riêng ở hướng Tây - Bắc Sài Gòn là khu vực căn cứ địa, cụ thể là tỉnh Tây Ninh, Trung ương Cục giao nhiệm vụ cho đồng chí Lê Thanh, Trưởng Tiểu ban đồng thời là Chỉ huy trưởng An ninh vũ trang, có nhiệm vụ tiêu diệt một đồn của địch trên đường 22, từ Xa Mát đến thị xã Tây Ninh. Đó là đồn Mỏ Công, nằm trên đường 22, cách thị xã Tây Ninh 14km về phía Bắc.
Tuy nằm cách thị xã không xa, nhưng đồn Mỏ Công cắm sâu vào vùng giải phóng. Ở đó tập trung bọn tình báo Thiên Nga, Phượng Hoàng, chuyên dụ dỗ, lôi kéo người dân vùng giải phóng. Hằng tháng có không dưới 30 người bị chúng chiêu hồi. Bọn gián điệp, tình báo ngụy, lấy cứ điểm này làm nơi xuất phát, đánh tay sai vào khu căn cứ của ta. Đóng giữ ấp Mỏ Công còn có 1 đại đội bảo an, 3 chốt dẫn vệ và 1 chốt cảnh sát. Chúng kiểm soát mười ngàn dân trong ấp chiến lược.
Đồng chí Lê Thanh giao nhiệm vụ cho Tham mưu trưởng Nguyễn Văn Bên và đồng chí Tiểu đoàn trưởng An ninh vũ trang Tư Thu đi nghiên cứu chiến trường. Sau khi nghe báo cáo địch tình, đồng chí Lê Thanh đề xuất phương án chiến đấu cường tập, giải quyết Phân chi khu Mỏ Công trong 24 giờ. Đồng chí Lê Thanh, đồng chí Nguyễn Văn Bên được giao nhiệm vụ chỉ huy trận đánh.
11 giờ đêm ngày 27/3/1975, trận đánh mở màn. Vượt qua hỏa lực pháo binh địch, các mũi tấn công dũng mãnh xông lên. Đến 11 giờ trưa ngày 28/3/1975, toàn bộ hệ thống 5 cứ điểm của Phân chi khu Mỏ Công bị tiêu diệt hoàn toàn. Tin chiến thắng Mỏ Công đến đúng lúc Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đang họp, tạo nên bầu không khí phấn khởi tưng bừng. Ngay buổi chiều ngày 28/3/1975, một đoàn cán bộ cao cấp của các cơ quan Trung ương Cục và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã xuống Mỏ Công thăm hỏi các đơn vị vừa lập công và đồng bào vùng mới được giải phóng. Đồng chí Trần Nam Trung, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thân mật bắt tay khen ngợi đồng chí Lê Thanh cùng các cán bộ chỉ huy trận đánh.
Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mở màn. Sau Hội nghị Trung ương Cục giữa tháng 4/1975, các đồng chí Phạm Hùng và Nguyễn Văn Linh thay mặt lãnh đạo Trung ương Cục triệu tập đồng chí Lê Thanh lên giao nhiệm vụ cho lực lượng An ninh vũ trang triển khai bảo vệ các đoàn cán bộ Trung ương Cục, Mặt trận và Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam, Việt Nam tiến về Sài Gòn sắp được giải phóng.
Ba hướng hành tiến được đồng chí Lê Thanh trình bày và được cấp trên phê duyệt. Thường vụ Trung ương Cục và cán bộ lãnh đạo Mặt trận, Chính phủ cách mạng lâm thời sẽ đi theo hướng Bến Súc về Thủ Đức. Đoàn cán bộ các cơ quan dân, chính, đảng đi theo trục đường 22. Đoàn thứ ba đi từ hướng Long An lên Phú Lâm rồi đột nhập vào Chợ Lớn. Ngày 20/4/1975, đồng chí Lê Thanh công bố quyết định thành lập Bộ Chỉ huy hành quân và tác chiến. Ngày 26/4, đồng chí Lê Thanh và đồng chí Nguyễn Văn Bên trực tiếp động viên cán bộ, chiến sĩ các đơn vị lên đường, hoàn thành nhiệm vụ mà Trung ương Cục và Ban An ninh Miền giao phó.
Đội hình tiến quân chia làm 3 hướng.
Hướng thứ nhất, lấy Đại đội 1, Tiểu đoàn 180, do đồng chí Nguyễn Văn Thu, Tiểu đoàn trưởng, chỉ huy, bảo vệ đoàn của đồng chí Võ Văn Kiệt, Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Gia Định, đột nhập vùng Phú Lâm, tiến vào thành phố.
Hướng thứ hai do Đại đội 2, Tiểu đoàn 180 đảm nhiệm, bảo vệ 3.000 cán bộ tiếp quản, thuộc các cơ quan dân, chính, đảng, đi theo hướng Hố Bò về thành phố.
Hướng quan trọng nhất do Tiểu đoàn 1 đảm nhiệm. Đồng chí Lê Thanh trực tiếp phụ trách, làm nhiệm vụ bảo vệ Thường vụ Trung ương Cục và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vào nội thành Sài Gòn.
Tiếp theo, các đơn vị An ninh vũ trang triển khai tiếp quản cảng Sài Gòn, sân bay Tân Sơn Nhất và kho xăng Nhà Bè.
Ngày 15/5/1975, Ủy ban quân quản Sài Gòn tổ chức lễ ra mắt nhân dân thành phố. Một cuộc duyệt binh trọng thể mừng chiến thắng đã được tổ chức. Trong đội ngũ diễu hành của các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, Việt Nam, có khối An ninh vũ trang, đại diện cho một lực lượng vũ trang tuyệt đối trung thành bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng trong suốt hai mươi năm chống đế quốc Mỹ xâm lược. Trên lễ đài, bên cạnh các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, có mặt đồng chí Lê Thanh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, Việt Nam, người chỉ huy cao nhất của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam, người chiến sĩ đã gắn bó với mảnh đất thành đồng Tổ quốc suốt 30 năm máu lửa.
Sau ngày giải phóng miền Nam, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam, Việt Nam hòa nhập với lực lượng Công an nhân dân và trang (nay là Bộ đội Biên phòng) làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới, bờ biển, hải đảo và các cửa khẩu quốc tế quan trọng trên toàn tuyến biên giới phía Nam. Tháng 5/1977, đồng chí Lê Thanh được bổ nhiệm chức danh Phó Tư lệnh lực lượng Công an nhân dân vũ trang. Đồng chí được phong quân hàm Thiếu tướng tháng 5/1977 và quân hàm Trung tướng tháng 5/1991.
Trên cương vị là người đại diện cho Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng trên tuyến biên giới phía Nam, đồng chí Lê Thanh đã có nhiều đóng góp quan trọng. Những đóng góp của đồng chí trong công tác Biên phòng ở phía Nam thể hiện trên 3 sự kiện chính là: Triển khai tuyến các đồn, trạm biên phòng trên biên giới, bờ biển, hải đảo và các cửa khẩu quốc tế ở miền đất Nam Bộ mới được giải phóng; xây dựng 2 trung đoàn cơ động, tăng cường cho công tác bảo vệ an ninh biên giới; tổ chức các trung đoàn Quân tình nguyện Biên phòng sang Campuchia, giúp bạn truy quét tàn quân Pol Pot và xây dựng lực lượng bảo vệ biên giới.
Ngay sau ngày 30/4/1975, đồng chí Lê Thanh tiếp nhận Tiểu đoàn 18 từ miền Bắc chi viện vào, kịp thời triển khai những đơn vị bảo vệ các mục tiêu trọng điểm nội thành Sài Gòn và ở các cửa khẩu quan trọng. Với sự hỗ trợ của các cơ quan Bộ Tư lệnh, đồng chí triển khai ngay việc tiếp quản cảng Sài Gòn, sân bay Tân Sơn Nhất và kho xăng Nhà Bè. Chỉ 5 ngày sau khi thành phố Sài Gòn được giải phóng, cảng Sài Gòn lại tiếp tục hoạt động, đón tàu bè trong nước và nước ngoài. Con tàu thống nhất Bắc - Nam sớm cập cảng Sài Gòn trong sự an toàn tuyệt đối, đã tạo ra niềm phấn khởi cho nhân dân thành phố sau ngày giải phóng. Đặc biệt, trạm bảo vệ sân bay Tân Sơn Nhất đã kịp thời triển khai, bảo vệ các chuyến bay đưa các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước vào làm việc và thăm hỏi cán bộ, nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
Đồng chí Lê Thanh đã tận dụng mối quan hệ của mình trong thời gian chiến đấu chống Mỹ, cứu nước với các đồng chí lãnh đạo các Tỉnh ủy ở Nam Bộ để triển khai đồng loạt hệ thống đồn Biên phòng, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ biên giới và bờ biển ở phía Nam. Do đặc điểm địa hình biên giới ở các tỉnh phía Nam ít rừng núi, mà phần nhiều có dân cư đông đúc, nên việc giải phóng mặt bằng, cắm chốt đồn, trạm Biên phòng đòi hỏi sự đồng thuận cao của chính quyền và nhân dân địa phương. Thế mạnh của đồng chí Lê Thanh là thu phục được lòng tin của cấp ủy và chính quyền địa phương cũng như sự cảm mến sẵn có của nhân dân. Nói về vị thế của một vị Tướng Biên phòng đã từng bám trụ địa bàn, dạn dày trận mạc thời chống Mỹ trên chiến trường Nam Bộ, các cán bộ lãnh đạo cấp cao, những nhân sĩ trí thức hết sức tin cậy.
Đồng chí Trần Bạch Đằng, nguyên Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Cục, nguyên Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Gia Định đã viết: "Nếu nói một vị Tướng ở Nam Bộ đã đóng góp trực tiếp vào quá trình xây dựng căn cứ lãnh đạo của kháng chiến thời chống Mỹ và người nhen nhóm đầu tiên để có một lực lượng vũ trang sau này đóng vai trò quan trọng trong chiến tranh giải phóng đất nước thì đó là anh Tám Lê Thanh. Trong lịch sử Nam Bộ kháng chiến ở Đông Nam Bộ thời chống Mỹ, hầu hết các sự kiện có tầm vóc trong thời gây dựng cơ đồ như trận đánh Minh Thạnh, Dầu Tiếng, Tua Hai đều có công sức của anh. Có trận với tư cách là người trực tiếp tổ chức và chỉ huy, có trận là người trợ lý chủ yếu cho Bộ Chỉ huy... Trong kháng chiến, tôi đã đặt cho anh một "ngoại hiệu" là "Tám Bằng Lăng". Bằng lăng là một loại cây rừng phổ biến. Anh Tám Lê Thanh, người con của Gia Định anh hùng, một con người từ nhân dân mà thành tướng lãnh, cúc cung tận tụy phục vụ nhân dân. Tấm gương của anh đời đời sáng chói".
Chính lòng tin yêu của tập thể trong thời chiến tranh đã tạo thuận lợi cho Trung tướng Lê Thanh hoàn thành nhiệm vụ thời bình. Sau ngày đất nước mới thống nhất, hoàn cảnh kinh tế nước ta còn nghèo nàn, việc triển khai một loạt các đồn Biên phòng mới gặp rất nhiều khó khăn. Nhờ có sự thông cảm và nhiệt tình của các cấp ủy và chính quyền địa phương đối với Bộ đội Biên phòng, nhiều nơi còn tài trợ ngân sách, hỗ trợ vật liệu, nên Bộ đội Biên phòng đã nhanh chóng xây cất được cơ bản hệ thống đồn, trạm trong một thời gian ngắn.
Khối lượng công việc lớn thứ hai mà Trung tướng Lê Thanh đã dày công đóng góp, đó là xây dựng lực lượng Cơ động Biên phòng ở phía Nam.
Ngay sau ngày Sài Gòn được giải phóng, với tư cách là người chỉ huy lực lượng An ninh vũ trang giải phóng miền Nam, đồng chí đã đề nghị Thành ủy và Quân khu ủy Sài Gòn - Gia Định chuyển Trung đoàn bộ đội địa phương "Củ Chi đất thép" sang lực lượng An ninh vũ trang, sau đó là lực lượng Công an nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng). Nói về Trung đoàn "Củ Chi đất thép" thì ngay trong những ngày trước khi mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh, tháng 2/1975, chính đồng chí Trung tướng Lê Thanh đã đề xuất với Thành ủy Sài Gòn - Gia Định thành lập một đơn vị cơ động, chuẩn bị tiếp quản thành phố sau khi chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc. Kết quả là Trung đoàn "Củ Chi đất thép" ra đời trên cơ sở các đơn vị bộ đội địa phương của huyện Củ Chi, được bổ sung quân số động viên từ các cơ quan dân, chính, đảng cấp huyện. Trung đoàn được thành lập và cấp tốc xây dựng trong vòng 56 ngày, kịp thời hành quân về tiếp quản các cơ quan tỉnh Gia Định cũ của ngụy quyền Sài Gòn.
Sau khi chuyển sang lực lượng Công an nhân dân vũ trang, lực lượng Cơ động Biên phòng được tăng cường trên nhiều hướng cho các tuyến biên phòng phía Nam. Tiểu đoàn 1 được phái lên tuyến biên giới Đắk Lắk, tham gia cuộc vây quét và vận động lực lượng Fulro ra hàng. Tiểu đoàn 3 tăng cường cho tuyến biển thuộc tỉnh Đồng Nai, tham gia cuộc chống thâm nhập và vượt biên. Tiểu đoàn 2 cắm ở Tây Ninh, tăng cường tuyến phòng thủ biên giới Tây Nam.
Sau khi Bộ Tư lệnh có chủ trương xây dựng thêm các Trung đoàn cơ động ở phía Nam, Trung tướng Lê Thanh đã bố trí lại Trung đoàn 2. Tiểu đoàn 2 vẫn đóng ở tuyến biên giới Tây Ninh, làm nòng cốt để xây dựng một trung đoàn cơ động mới, vẫn lấy phiên hiệu là Trung đoàn 2. Tiểu đoàn 3 chuyển xuống tuyến biên giới An Giang, làm nòng cốt để xây dựng Trung đoàn 4 Biên phòng. Bản thân Trung tướng Lê Thanh tham gia phê duyệt kế hoạch tổ chức và bố trí đội ngũ cán bộ chỉ huy các đơn vị mới.
Việc củng cố và tăng cường các đơn vị cơ động Biên phòng ở tuyến biên giới Tây - Nam đã kịp thời ứng phó với những hành động lấn chiếm và xâm phạm biên giới Việt Nam của bè lũ phản động Pol Pot. Tiêu biểu cho các trận chiến đấu chống bè lũ Pol Pot xâm nhập biên giới là Đại đội 6, Tiểu đoàn 2 ở Xa Mát. Đơn vị này được tăng cường cho Đồn Biên phòng Xa Mát (Đồn 27). Đại đội trưởng Đại đội 6 là đồng chí Trần Văn Năm (biệt danh là Năm Gấu), vốn là một "Dũng sĩ diệt Mỹ" thời chiến tranh chống Mỹ. Trước khi lên biên giới, Trần Văn Năm có dịp gặp đồng chí Lê Thanh và đã được căn dặn tỉ mỉ cách xử lý mọi tình huống bất ngờ. Trong trận đánh kéo dài 6 ngày đêm (từ 24/9/1977 đến 30/9/1977) chống quân Khmer đỏ tấn công vào biên giới ta trên trục lộ 22, thuộc xã Tân Lập, huyện Tân Biên, Tây Ninh, Đại đội 6 đã lập công xuất sắc. Địch đánh vào 3 xã Tân Lập, Tân Khu, Tân Phú nhiều lần đều bị chặn. Cuối cùng, địch phải rút lui về bên kia biên giới. Đại đội 6 đã cứu được 200 người dân xã Tân Khu, dẫn về nơi an toàn.
Với chiến công đó, cùng nhiều thành tích khác trong thời kỳ chống Mỹ, Trung tá Trần Văn Năm được Đảng và Nhà nước tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Mãi đến sau này đồng chí vẫn nói: "Đức tính sâu sát cán bộ và tình yêu thương cấp dưới của Trung tướng Lê Thanh đã động viên tôi trưởng thành trong chiến đấu".
Trung tướng Lê Thanh là người có nhiều công lao đóng góp trong việc triển khai các đơn vị Công an nhân dân vũ trang sang giúp cách mạng Campuchia truy quét tàn quân Khmer Đỏ và giúp Bạn xây dựng lực lượng bảo vệ biên giới.
Ngày 7/1/1979, Thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng. Tàn quân Pol Pot rút chạy về phía Tây, dựa vào biên giới Thái Lan. Địch có cả cấp trung đoàn, sư đoàn tìm cách phản công, chống lại quân tình nguyện Việt Nam và chính quyền Bạn. Trước tình hình phức tạp như vậy, tháng 1/1979, đồng chí Lê Đức Thọ thay mặt Ban Chấp hàng Trung ương triệu tập Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang, gồm có đồng chí Trung tướng Tư lệnh Trần Quyết và hai đồng chí Phó Tư lệnh, Thiếu tướng Đinh Văn Tuy, Thiếu tướng Lê Thanh, giao cho lực lượng Công an nhân dân vũ trang tổ chức các đơn vị sang giúp Bạn, với nhiệm vụ: Một là, bảo vệ cơ quan đầu não của cách mạng Campuchia, bảo vệ tuyệt đối an toàn các lãnh tụ của Bạn. Hai là, giúp Bạn kinh nghiệm công tác biên phòng, triển khai bảo vệ tuyến biên giới Campuchia - Thái Lan và tuyến biển phía Nam.
Chỉ thị của Trung ương đã được Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang chấp hành nhanh chóng và chính xác. Trung tướng Lê Thanh giữ vai trò đốc chiến, theo dõi và kiểm tra việc triển khai chu đáo. Mỗi lần có đơn vị xuất quân, đồng chí đều đến tận nơi khích lệ, động viên và trao cờ "Quyết thắng".
Ngày 30/1/1979, Đoàn B71 là đơn vị đầu tiên xuất phát, đáp máy bay sang Phnôm Pênh. Tiếp theo là đoàn B73, gồm 3 tiểu đoàn, xuất phát từ Trường huấn luyện Rạch Dừa, xuống Vũng Tàu đi tàu thủy đến cảng Kông Pong Xom, Campuchia. Đoàn đông nhất là Đoàn B72, gồm 4 tiểu đoàn xuất phát ngày 25/2/1979, hành quân bằng cơ giới sang Xiêm Riệp. Cả 3 đoàn đầu tiên gồm 9 tiểu đoàn và 3 đại đội được tổ chức trên cơ sở tổ chức biên chế của các đơn vị cũ, thuộc Trung đoàn 600 và Trung đoàn 180, cùng với phần lớn rút từ biên chế hai trung đoàn 2 và 4.
Sau khi các đơn vị đứng chân trên chiến trường đất Bạn, tháng 5/1979, được sự nhất trí của Bộ Tư lệnh Tiền phương, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang đã mở Hội nghị sơ kết công tác triển khai các đơn vị ở Thủ đô Phnôm Pênh.
Bản thân Trung tướng Lê Thanh cũng sang Campuchia kiểm tra tình hình và thăm hỏi các cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Biên phòng. Tháng 3/1979, Đoàn khảo sát của Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang đã sang chiến trường để nghiên cứu, xem mô hình tổ chức các đơn vị, theo mô hình cấp tiểu đoàn của quân tình nguyện Biên phòng đã phù hợp hay chưa. Cuối cùng, trong cuộc gặp Trung tướng Lê Đức Anh, Tư lệnh Tiền phương của Bộ Quốc phòng, đoàn đại diện Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang đã đề xuất mô hình tổ chức các đơn vị theo mô hình cấp Trung đoàn Biên phòng, phối thuộc các sư đoàn chủ lực để tạo thuận lợi trong việc chỉ huy và đảm bảo chiến đấu. Đề nghị ấy được Bộ Tư lệnh Tiền phương nhất trí. Từ đó các phiên hiệu Trung đoàn 6, 8, 10, 14, 20, 71 ra đời. Cuối tháng 4/1980, Trung đoàn 2 Biên phòng đứng chân ở khu vực Cao Mê Lai là trung đoàn cuối cùng được phái sang giúp Bạn.
Khi có Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị, các đơn vị quân tình nguyện Công an nhân dân vũ trang chuyển sang Bộ Quốc phòng, Trung tướng Lê Thanh vẫn đem hết tâm huyết chăm lo cho các đơn vị sang giúp Bạn, chiến đấu gian khổ trên các chiến trường xa.
Trong cuộc đời năm mươi năm chiến đấu và công tác của mình, Trung tướng Lê Thanh luôn luôn thể hiện lòng thương yêu cán bộ, chiến sĩ dưới quyền, luôn luôn quan tâm tới đời sống hậu phương của họ. Ông đã được đồng đội tin yêu, quý mến trong chiến tranh cũng như trong hòa bình. Đại tá Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trần Văn Năm nhớ lại: "Từ ngày tôi là một cán bộ sơ cấp, chiến đấu trên tuyến biên giới Tây Nam, tôi luôn luôn được Trung tướng Lê Thanh theo dõi, dạy bảo. Đồng chí có một quan điểm sử dụng cán bộ là tạo mọi điều kiện nâng cao trình độ chỉ huy tác chiến. Ngày tôi từ chiến trường K trở về nước, việc đầu tiên đồng chí lo cho tôi là cho tôi dự học ở trường Trung cao Quân sự, sau đó vào Học viện Quốc phòng. Sau này, tôi được bổ nhiệm làm Phó Chỉ huy, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng Tây Ninh, đồng chí hiểu thấu khó khăn lớn của tôi về hoàn cảnh hậu phương nên mặc dù tôi không yêu cầu, đồng chí vẫn bố trí tôi về Long An để tiện việc chăm sóc hậu phương gia đình tại miền quê Cần Giuộc".
Đại tá Phạm Tấn Nhân từ chiến trường trở về, vợ bị bạo bệnh qua đời, đồng chí Lê Thanh đã giúp đỡ, giới thiệu cho người bạn đời mới. Khi Đại tá Phạm Tấn Nhân được cử đi học ở Học viện Quân sự cấp cao, do thiếu một số điều kiện nên chưa đủ tiêu chuẩn nhập học thì có ngay sự can thiệp, giải bày trực tiếp của Trung tướng Lê Thanh, nên đồng chí Nhân đã được chiếu cố với hoàn cảnh là một người chỉ huy đã có nhiều năm lăn lộn trên chiến trường.
Đặc biệt, đồng chí Lê Thanh đối xử công bằng với mọi người không phân biệt người Nam hay người Bắc. Đại tá Bùi Long, nguyên Chủ nhiệm Chính trị Bộ đội Biên phòng gặp khó khăn về nhà ở tại thành phố Hồ Chí Minh, đã được Phó Tư lệnh Lê Thanh quan tâm, ưu ái đối với một cán bộ giàu năng lực nhưng nghèo tiền bạc, quê hương tận ngoài Bắc, nên đã giải quyết trọn vẹn nghĩa tình, cấp cho một căn hộ ở đường Hoàng Việt.
Về với đời thường, Trung tướng Lê Thanh luôn luôn là tấm gương sáng cho con cháu noi theo. Đối với con cái, ông vừa là người cha, vừa đảm nhiệm vai trò của một người mẹ. Những lời dạy dỗ nhẹ nhàng nhưng đầy ý nghĩa của ông đã ghi đậm dấu ấn trong lòng các con, cháu. Tấm gương sống đẹp, giàu tình cảm của ông được các con đem ra làm tấm gương để giáo dục lại cho thế hệ tiếp theo.
Trung tướng Lê Thanh nghỉ hưu năm 1995. Ông từ trần năm 2006. Cuộc đời anh thanh niên nông dân Lê Văn Dọn (tức Lê Thanh), tham gia cách mạng và kháng chiến chống đế quốc xâm lược từ những ngày đầu, là điển hình của thế hệ thanh niên Nam bộ sau Cách mạng tháng Tám, tạo dựng nên hình tượng "Thành đồng Tổ quốc" vẻ vang. Từ một chiến sĩ du kích, ra đi với chiếc gậy tầm vông, ông đã lăn lộn khắp chiến trường miền Đông Nam bộ, để lại dấu chân khắp các địa danh lịch sử: Rừng Sác, chiến khu Đ, chiến khu Dương Minh Châu, căn cứ Trung ương Cục, được tôi luyện dưới ánh sáng của Đảng, trở thành một vị Tướng của nhân dân, giàu bản lĩnh, giàu lòng nhân ái.
Trung tướng Lê Thanh là một vị tướng hành động, bám chắc thực tiễn, do đó bước từ chiến tranh sang hòa bình, chuyển sang nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ông thích nghi rất nhanh. Là vị Phó Tư lệnh Bộ đội Biên phòng trực tiếp phụ trách, đôn đốc các đơn vị tuyến biên phòng ở phía Nam, ông đã thể hiện vai trò đốc chiến năng nổ, đạt hiệu quả cao. Cuộc triển khai các đơn vị Biên phòng trên tuyến biên giới phía Nam, đặc biệt trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới chống lại bọn Pol Pot xâm nhập và việc tổ chức các đơn vị quân tình nguyện Biên phòng sang giúp bạn Campuchia, đã chứng minh trí quyết đoán, óc tổ chức và khả năng động viên thuyết phục cán bộ, chiến sĩ ra mặt trận của ông rất cao. Dù ở thời điểm nào, ông cũng thể hiện tinh thần đoàn kết chặt chẽ, nêu tấm gương đoàn kết Bắc, Nam cho toàn lực lượng.
Trung tướng Lê Thanh đã được Đảng và Nhà nước tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Quân công hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba; Huân chương Chiến công hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba; Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhất; Huân chương Chống Mỹ cứu nước hạng Nhất và nhiều huân, huy chương khác. Đặc biệt ngày 25/4/2015, ông được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Lễ tang đồng chí Trung tướng Lê Thanh đã được tổ chức trọng thể tại thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết; Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Lê Thanh Hải cùng các vị lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh đã đến viếng ông và ghi vào sổ tang: "Chúng tôi chia buồn sâu sắc với gia đình, vĩnh biệt đồng chí Tám Lê Thanh, một vị tướng tài ba, một đảng viên trung kiên, một người chú, người cha kính yêu. Cả cuộc đời đồng chí đã dâng hiến cho sự nghiệp cách mạng cao cả của dân tộc, của Đảng. Đồng chí là tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, về tính chiến đấu của người cộng sản, về tình yêu thương đồng chí, đồng đội."
Thượng tướng Phan Trung Kiên, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng cũng viết: "Trung tướng Lê Thanh, đảng viên trung dũng kiên cường là một cán bộ mẫu mực của Đảng và Nhà nước, của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Đồng chí đã tỏ rõ tấm lòng trong sáng, kiên trung với cách mạng, thủy chung trọn vẹn với gia đình. Đồng chí đã nêu lên tấm gương sáng về đạo đức, lối sống cần, kiệm, liêm, chính, thật thà, giản dị, gần gũi dân chúng và cấp dưới quyền".


