Anh Hùng Tô Văn Đực
Đồng chí Tô Văn Đực sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê tại xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 2 năm 1962, đồng chí gia nhập lực lượng dân quân và được phân công phụ trách công xưởng của xã. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là Tổ trưởng Tổ sản xuất và sửa chữa vũ khí xã Nhuận Đức, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức ch
Đồng chí Tô Văn Đực sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê tại xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 2 năm 1962, đồng chí gia nhập lực lượng dân quân và được phân công phụ trách công xưởng của xã. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là Tổ trưởng Tổ sản xuất và sửa chữa vũ khí xã Nhuận Đức, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nước”, đồng chí Tô Văn Đực luôn kiên trì, sáng tạo, vượt qua muôn vàn khó khăn những ngày đầu. Chỉ với chiếc bễ lò rèn, vài dụng cụ thô sơ và tinh thần quyết tâm, đồng chí đã nghiên cứu, chế tạo được nhiều loại vũ khí phục vụ chiến đấu. Đặc biệt, đồng chí đã sáng tạo ra các loại mìn chống tăng có hiệu quả cao, góp phần giải quyết tình trạng thiếu vũ khí và thúc đẩy phong trào thi đua diệt Mỹ trên vùng đất thép Củ Chi. Bên cạnh công tác nghiên cứu, đồng chí còn trực tiếp chiến đấu, phá hủy 13 xe bọc thép M113 và tiêu diệt 32 tên Mỹ.
Thời gian đầu, công xưởng của xã chỉ sửa chữa các loại súng hỏng. Qua quá trình mày mò, thử nghiệm, đồng chí Tô Văn Đực đã sản xuất thành công hàng chục khẩu súng trường, kịp thời trang bị cho dân quân và bộ đội địa phương. Năm 1965, khi địch ném bom xuống ấp Bầu Trong, còn lại 13 quả bom chưa nổ, đồng chí dũng cảm một mình tìm cách tháo gỡ. Sau khi tháo thành công quả đầu tiên, đồng chí hướng dẫn đồng đội tháo gỡ các quả còn lại, thu hồi thuốc nổ để chế tạo mìn đánh địch.
Không chỉ tháo gỡ bom mìn, đồng chí còn kiên trì nghiên cứu chế tạo nhiều loại mìn và lựu đạn. Vừa sản xuất vừa mang đi chiến đấu thử nghiệm, đồng chí cùng đồng đội tạo ra các loại mìn gài, mìn giật có sức công phá lớn. Năm 1966, trước tình hình địch liên tục dùng xe cơ giới tấn công vào vùng giải phóng, Tô Văn Đực đã cải tiến mìn chập điện thành mìn gài và mìn gạt, áp dụng hiệu quả trong đánh xe tăng địch. Sáng kiến của đồng chí được phổ biến trong toàn quân khu, góp phần nâng cao hiệu quả chiến đấu của lực lượng du kích địa phương.
Trong quá trình nghiên cứu và chiến đấu, Tô Văn Đực hai lần bị thương nhưng vẫn kiên cường bám trụ, không lùi bước. Đồng chí luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, dìu dắt đồng đội, xây dựng công xưởng ngày càng vững mạnh, đáp ứng kịp thời yêu cầu phục vụ chiến đấu. Với những cống hiến to lớn, đồng chí được tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba, hai năm liền (1965 – 1966) là Chiến sĩ thi đua.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Ngày 17 tháng 9 năm 1967, đồng chí được Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Giải phóng khi mới 25 tuổi.
Sau ngày đất nước thống nhất, Anh hùng Tô Văn Đực tiếp tục cống hiến trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự, giữ chức Phó Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân khu 7. Khi rời quân ngũ, ông vẫn miệt mài nghiên cứu, ôn lại những chiến công năm xưa như để nhắc nhở thế hệ sau trân trọng hơn những giá trị của hòa bình hôm nay.
Trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, ngành kỹ thuật quân khí được tổ chức từ cấp tiểu đoàn đến sư đoàn, bảo đảm trang bị và bảo dưỡng vũ khí, khí tài phục vụ chiến đấu. Việc bồi dưỡng năng lực sáng tạo, dám nghĩ, dám làm cho cán bộ, nhân viên kỹ thuật là nhiệm vụ quan trọng, tiếp nối tinh thần của những người đi trước như Anh hùng Tô Văn Đực – người thợ rèn giản dị đã góp phần làm rạng danh truyền thống “tự lực, tự cường” của quân đội ta.


