Anh hùng Lực lượng vũ trang

anh hùng Vũ Lăng

Vũ Lăng. (4 tháng 8 năm 1921 - 23 tháng 10 năm 1988) tên thật là Đỗ Đức Liêm, một tướng lĩnh cao cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam, hàm Thượng tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.Ông là một trong những vị tướng lập được nhiều chiến công lớn trong những trận đánh quan trọng của Quân đội nhân dân Việt Nam, ông là người đã có công lao to lớn trong chiến thắng của chiến dịch Tây Nguyên mà trận Buôn Ma Thuột là điển hình. Ông quê quán tại xã Ngũ Hiệp, Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội.

Cần Thơ10/03/2026Hàng sà Rinh- Đoàn phường Vĩnh Châu (phường Vĩnh Châu)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, 11/1945 ông là một trong những chiến sĩ Nam tiến đầu tiên chiến đấu ở mặt trận Nha Trang-Ninh Hòa và được cử làm Chỉ đạo viên trung đội chiến đấu, sau đó là Phó ban huấn luyện khu 6, rồi Phó ủy viên quân sự Ninh Hòa. 12/1946 ông ra bắc, vào ngày toàn quốc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Vũ Lăng là quyết tử quân của trung đoàn Thủ Đô, khu Đông Kinh Nghĩa Thục, tham gia chiến đấu bảo vệ Bắc bộ phủ và được phân công làm ủy viên tác chiến, ông cùng đồng đội và nhân dân Hà Nội chiến đấu suốt 2 tháng trời trong vòng vây của giặc Pháp tại Hà Nội. Ngày 14/1/1947, tại rạp Chuông Vàng, trong buổi lễ tuyên thệ và thành lập Trung đoàn Thủ Đô, ông với cương vị tiểu đoàn phó tiểu đoàn 103 cùng 2 chiến sĩ trung đoàn được cử lên nhận thanh kiếm quyết tử và đọc lời thề ”quyết tử cho tổ quốc quyết sinh’’ “Hôm nay chúng ta làm lễ khai sinh đội quân quyết tử. Chúng ta thề sống chết bảo vệ thủ đô. Con cháu chúng ta sẽ lấy ngày này là ngày giỗ của chúng ta. Giặc Pháp muốn chiếm thủ đô Hà Nội, nhưng chúng ta còn, thủ đô sẽ không bao giờ mất. Xin thề! Xin thề! Xin thề”.[3] Trong trận đánh nhà Sô Va và Trường Ke ông đã tỏ rõ khả năng quân sự và tư duy sắc sảo của ủy viên tác chiến khu Đông Kinh Nghĩa Thục, sau đó ông cùng Ban chỉ huy Trung đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ khi dẫn hơn 2,500 đồng bào và chiến sĩ rút ra khỏi Hà Nội an toàn theo đường chui dưới gầm cầu Long Biên giữa vòng vây của giặc Pháp vào đêm 17 tháng 2 năm 1947. 1947-1953, Vũ Lăng được cử làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 54, trung đoàn Thủ đô (E102) rút gọn thời gian đấy, đại đoàn 308. Ông đã chỉ huy tiểu đoàn tham gia đánh các trận Bồng Lai, Sông Lô, Đại Bục... và các chiến dịch lớn như: Việt Bắc, Sông Thao, Biên Giới, Trung Du, Hoàng Hoa Thám, Hà Nam Ninh, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào.... Đặc biệt trong cuộc đọ sức với Binh đoàn thiện chiến tây đen Beaufré vào tháng 8/1947, Tiểu đoàn của ông đã lập kỳ tích vang dội và được các bài báo đã nhắc nhiều đến với tên Bộ đội Vũ Lăng. Đặc biệt năm 1949 ông đã chỉ huy tiểu đoàn đánh trận hạ đồn Đại Bục là một trong những đồn chủ chốt nằm trên phòng tuyến sông Thao, chắn đường quân ta tiến vào Tây Bắc, mở màn chiến dịch tấn công vào phòng tuyến sông Thao, đúng ngày sinh nhật của Hồ Chí Minh năm 1949.[4] Từ năm 1953 ông được cử làm trung đoàn trưởng trung đoàn 98, đại đoàn 316, ông đã đã xây dựng lại trung đoàn 98 trở thành trung đoàn đánh công kiên (đánh cứ điểm) rất nhanh như ở trận Bản Mo thuộc chiến dịch Tây Bắc, chỉ trong vòng 1 giờ chiến đấu, trung đoàn đã đánh chiếm được đồn Bản Mo; Tại trận đánh đồi C1, chỉ trong vòng 30 phút bộ đội trung đoàn đã cắm được cờ lên đỉnh đồi C1. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, trung đoàn 98 do Vũ Lăng chỉ huy đã đánh chiếm đồi C1 và C2. Cùng với A1, đồi C1 có vị trí quan trọng trong việc bảo vệ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tuy thấp hơn đồi E1 & D1 nhưng C1 & A1 có vị trí quan trọng hơn bởi chúng chỉ cách sở chỉ huy của Đờ Cát vài trăm mét và trực tiếp kiểm soát 2 chiếc cầu qua sông Nậm Rốm. Nếu Quân đội Nhân dân Việt Nam chiếm được C1, A1 thì sẽ phá được thế phòng thủ liên hoàn của địch ở hai bên bờ sông Nậm Rốm, đồng thời khống chế được các cứ điểm trên cánh đồng Mường Thanh bằng hỏa lực bắn thẳng của Pháp. Trận chiến ác liệt trên đồi C1 đã diễn ra trong suốt 31 ngày đêm và Quân đội Nhân dân Việt Nam đã chiến thắng, góp phần quan trọng vào thành công của chiến dịch Điện Biên Phủ, trong trận chiến ác liệt này mặc dù là Trung đoàn trưởng nhưng ông cũng cầm tiểu liên lên tận cứ điểm cùng với các chiến sĩ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn