Bà Mười và bốn thằng con – Khúc vọng của gió Cam Lộ -1C3VCVB
Đêm ba mươi Tết Mậu Thân, gió từ sông Hiếu rít qua khe cửa hầm như tiếng sáo diều đứt dây. Trong ánh đèn dầu leo lét, bà Mười ngồi vá lại vạt áo chàm của thằng út, mũi kim thép run lên nhưng không trật một mũi. Ngoài kia, pháo sáng vạch ngang trời như vết dao chém vào nền đen, nhưng trong hầm, chỉ có tiếng kim khua vào mảnh vải và tiếng bà lẩm bẩm: “Về được thì mẹ luộc cho con con gà. Con gà mẹ nuôi từ vụ lúa đầu.”
Bức ảnh thằng cả dán trên nắp hòm đạn đã úa vàng. Nó cười, hàm răng trắng, tóc cắt ngắn như mọi chàng trai ở Cam Lộ năm 1965. Dưới ảnh, ba lá thư khác ép phẳng: thư thằng hai viết bằng mực xanh lem nhem, thư thằng ba gửi từ Huế chỉ vỏn vẹn ba chữ “Mẹ khỏe không”, thư thằng út chưa kịp gửi đã bị khói lửa chặn lại.
Thằng cả ngã xuống ở Đắk Tô, lúc mùa cà phê vừa chín.
Thằng hai biến mất ở Khe Sanh, giữa một trận mưa rừng không có ngày dừng.
Người ta bảo bà khóc nhiều là mắt sẽ mù. Bà không khóc. Không phải vì nước mắt đã cạn, mà vì bà biết: nếu mẹ mà đ
Thằng ba nằm lại trên cầu An Cựu, khi tiếng súng vừa tắt và người ta bắt đầu treo cờ đỏ trên mái ngói.
ổ, thì ai là người đứng để chờ con về?
Năm 1975, hòa bình về như một cơn gió lạ. Cán bộ xã về làng, tay cầm tấm bằng đỏ, giọng đọc tên bà giữa sân kho rợp cờ: “Mẹ Việt Nam Anh hùng – Nguyễn Thị Mười”. Bà mặc chiếc áo nâu vá bảy tám chỗ, lóng ngóng đứng dậy, hai tay run run đón tấm bằng như đón giấy báo tử lần thứ tư. Đám trẻ con reo lên. Bà chỉ nhìn xuống, đặt tấm bằng cạnh bàn thờ, nơi có ba bát hương khói nghi ngút và một khung ảnh trống treo bằng sợi chỉ đỏ.
Tối nào bà cũng thắp nhang. Sáng nào bà cũng mở cửa hầm cho gió lùa vào, đặt thêm một đôi đũa tre lên mâm cơm nguội. Hàng xóm bảo bà lẩn thẩn. Bà cười, giọng khàn như gió qua lũy tre: “Lẩn thẩn đâu. Tao vẫn chờ tụi nó về ăn cơm thôi. Con tao, dù chết cũng phải về nhà ăn Tết.”
Bốn mươi năm sau, làng Cam Lộ đổi khác. Đường nhựa chạy qua, loa phường hát nhạc trẻ, trẻ con chẳng còn biết mùi hầm trú ẩn. Chỉ có nhà bà Mười vẫn thế, mái tranh thấp, cửa gỗ đen, trước ngõ một cây bàng già. Người ta bảo bàng già ấy là do thằng cả trồng, trước ngày lên đường.
Năm bà chín mươi hai, bà mất vào một sớm tháng Chạp. Trong chiếc hòm gỗ mục, di chúc chỉ vỏn vẹn một câu mực tím đã nhòe: “Đừng bỏ đôi đũa kia. Biết đâu tụi nó về trễ.”
Từ đó, mỗi sáng mồng Một, người trong làng vẫn mở cửa nhà bà. Gió từ sông Hiếu tràn vào, mang theo mùi khói nhang và mùi đất mới. Đôi đũa tre vẫn nằm im trên mâm, sạch sẽ, như có ai vừa lau.
Có người bảo, những đêm gió lớn, nghe trong hầm vẫn thoảng tiếng bốn thằng con gọi “Mẹ ơi”. Nhưng không ai dám hỏi bà, vì bà đã đi rồi. Chỉ còn gió Cam Lộ, năm nào cũng thổi, như một câu chuyện chưa bao giờ kể hết.



