Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Bậc trí thức lớn thời Lê – Trịnh và Tây Sơn

Bắc Ninh27/09/2026Đoàn Phường Hương An (Đoàn phường Hương An)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngô Thì Nhậm (1746–1803), tự Hy Doãn, hiệu Đạt Hiên, sinh ngày 25-10-1746 tại làng Tả Thanh Oai, nay thuộc Hà Nội. Ông xuất thân trong một gia đình có truyền thống khoa bảng và văn chương nổi tiếng. Cha ông là Ngô Thì Sĩ, một nhà sử học, nhà thơ và vị quan có tiếng thời Lê – Trịnh; em rể là Phan Huy Ích, cũng là một trí thức nổi bật dưới triều Tây Sơn. Từ nhỏ, Ngô Thì Nhậm đã bộc lộ năng lực học tập đặc biệt. Năm 16 tuổi, ông đã soạn Nhị thập thất sử toát yếu; năm 1768 đỗ Giải nguyên và năm 1775 đỗ Tiến sĩ. Con đường làm quan của ông sau đó trải qua nhiều chức vụ, từ Hiến sát phó sứ Hải Dương đến Đốc đồng Kinh Bắc và Thái Nguyên.

Không chỉ nổi tiếng về khoa cử và chính sự, Ngô Thì Nhậm còn sớm thể hiện năng lực nghiên cứu và trước tác. Năm 1771, ông hoàn thành Hải Đông chí lược, một công trình khảo cứu về lịch sử và đời sống vùng Hải Dương. Trong thời gian làm quan, ông được đánh giá là người có kiến thức rộng, văn võ đều có năng lực. Tuy nhiên, ông cũng là người dám bày tỏ quan điểm trước những chính sách mà mình cho là chưa phù hợp. Sau biến động chính trị năm 1782, khi tình hình Thăng Long trở nên phức tạp, Ngô Thì Nhậm rời bỏ chốn quan trường, về sống ở vùng Sơn Nam. Sáu năm ấy không phải khoảng thời gian nhàn rỗi: ông tiếp tục đọc sách, nghiên cứu và hoàn thành những tác phẩm như Xuân Thu quản kiến và Thủy vân nhàn vịnh.

Bước ngoặt lớn trong cuộc đời Ngô Thì Nhậm đến khi phong trào Tây Sơn tiến ra Bắc. Năm 1786, Nguyễn Huệ ra Bắc lần đầu, nhưng Ngô Thì Nhậm vẫn giữ thái độ thận trọng và chưa lập tức ra giúp Tây Sơn. Đến lần Nguyễn Huệ ra Bắc năm 1788, ông nhận thấy ở vị tướng Tây Sơn một người có khả năng đáp ứng những điều mà mình kỳ vọng đối với vận mệnh đất nước. Ngô Thì Nhậm quyết định ra cộng tác với Nguyễn Huệ và nhanh chóng trở thành một trong những trí thức được vị vua sau này là Quang Trung trọng dụng. Ông được giao chức Tả thị lang Bộ Lại và tham gia công việc tổ chức nhân sự của triều đình. Đặc biệt, ông là người soạn Chiếu cầu hiền, văn bản thể hiện chủ trương thu hút những người có tài năng ra giúp nước.

Trong cuộc đối đầu với quân Thanh cuối năm 1788, tài năng về sách lược của Ngô Thì Nhậm được thể hiện rõ. Trước tình thế quân Thanh tiến vào Thăng Long, ông chủ trương rút lực lượng về Tam Điệp – Biện Sơn thay vì cố giữ một Thăng Long chưa đủ điều kiện phòng thủ. Theo tư liệu được Bảo tàng Lịch sử Quốc gia dẫn lại, kế sách này phù hợp với tình hình thực tế và được Quang Trung đánh giá cao. Sau đó, khi Quang Trung tiến quân ra Bắc và giành thắng lợi, Ngô Thì Nhậm tiếp tục đảm nhiệm công việc ngoại giao với nhà Thanh. Ông vừa giữ nguyên tắc về chủ quyền, vừa tìm cách duy trì quan hệ hòa hiếu, nhằm tạo điều kiện để đất nước có thời gian ổn định và xây dựng sau chiến tranh.

Một câu chuyện thường được nhắc đến khi nói về khí chất của Ngô Thì Nhậm là việc ông từ chối bước vào một công quán dành cho sứ thần An Nam khi tên gọi trên biển mang hàm ý coi Việt Nam là một nước “man di”. Theo bài viết của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, ông kiên quyết yêu cầu thay đổi cách gọi trước khi đoàn sứ bộ bước vào. Câu chuyện này, dù được lưu truyền trong các tư liệu về hoạt động ngoại giao của ông, cho thấy hình ảnh một nhà ngoại giao luôn ý thức về vị thế của đất nước trong quan hệ với nước lớn. Ngô Thì Nhậm đã hai lần giữ vai trò chánh sứ sang giao thiệp với nhà Thanh và được xem là một trong những nhà ngoại giao tiêu biểu của triều Quang Trung.

Năm 1792, Quang Trung qua đời khi còn khá trẻ. Sự mất mát ấy ảnh hưởng sâu sắc đến Ngô Thì Nhậm. Dù triều Tây Sơn dần suy yếu, ông vẫn tiếp tục làm việc và tìm cách góp phần duy trì triều đại. Trong những năm cuối đời, ông dành nhiều thời gian nghiên cứu Thiền học, đồng thời tìm cách kết hợp những giá trị của Nho giáo với tư tưởng Thiền tông. Tác phẩm Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh, hoàn thành năm 1796, là kết quả nổi bật của quá trình suy ngẫm ấy. Qua tác phẩm, có thể thấy một Ngô Thì Nhậm không chỉ là nhà chính trị, ngoại giao mà còn là một trí thức luôn tìm kiếm những giá trị tư tưởng phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc.

Năm 1803, sau khi triều Tây Sơn sụp đổ, Ngô Thì Nhậm bị đưa ra Văn Miếu cùng một số quan lại Tây Sơn và bị đánh đòn. Ông qua đời ngày 9-3-1803, hưởng thọ 57 tuổi. Bài viết của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cũng ghi lại câu chuyện truyền miệng về cuộc đối đáp giữa Ngô Thì Nhậm và Đặng Trần Thường trong hoàn cảnh này; tuy nhiên, đây là chi tiết được lưu truyền về sau nên cần được nhìn nhận như một giai thoại lịch sử. Sau khi ông mất, tên ông từng bị đục khỏi bia tiến sĩ tại Văn Miếu. Nhiều năm sau, tên tuổi và những đóng góp của ông tiếp tục được nghiên cứu, ghi nhận.

Trong 57 năm cuộc đời, Ngô Thì Nhậm đã trải qua nhiều biến động lớn của lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XVIII. Ông từng là quan lại nhà Lê – Trịnh, có những năm rời xa chính trường để nghiên cứu và viết sách, rồi trở thành một trong những trí thức quan trọng giúp Quang Trung xây dựng chính quyền, tổ chức nhân sự, xử lý ngoại giao và ứng phó với những biến động lớn của đất nước. Bên cạnh hoạt động chính trị, ông để lại một di sản văn chương phong phú với hàng trăm bài thơ và nhiều tác phẩm về lịch sử, chính trị, triết học. Ngày nay, nhà thờ Ngô Thì Nhậm tại Tả Thanh Oai vẫn là nơi lưu giữ ký ức về một danh nhân có ảnh hưởng trên nhiều lĩnh vực của đời sống văn hóa và lịch sử Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn