BCH Đoàn phường Nguyễn Uý (153)
Những người đi tìm tên gọi thiêng liêng
Một sáng giữa tháng Tư, ánh nắng dịu dàng trải vàng những lối nhỏ quanh Nghĩa trang liệt sĩ xã Tràng An, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Gió khẽ lay cành lá, mùi nhang thơm phảng phất giữa không gian trầm mặc, nơi hàng trăm ngôi mộ liệt sĩ nằm san sát, lặng yên mà thiêng liêng. Trong gian phòng nhỏ ở trụ sở Công an xã cách đó không xa, Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Hợp năm nay đã gần 100 tuổi, mái tóc bạc trắng, dáng người gầy guộc, lặng lẽ đặt lên bàn tấm di ảnh cũ kỹ của hai con trai là liệt sĩ Nguyễn Quang Hiệp và Nguyễn Quang Hạc đã anh dũng hy sinh bảo vệ Tổ quốc trong các năm 1969 và 1971.
Đại tá Tô Anh Dũng, Giám đốc Công an tỉnh Hà Nam trực tiếp chỉ đạo các tổ công tác thu thập mẫu ADN thân nhân các liệt sĩ trên địa bàn để xác định danh tính liệt sĩ.
Hai bức ảnh nhòe theo năm tháng, nước sơn trên khung gỗ nhiều chỗ đã phai mờ, nhưng ánh mắt của những người lính trẻ năm xưa vẫn sáng lên một nỗi khắc khoải vọng về từ chiến trường, như đang nhìn người mẹ trong lần tiễn đưa ra trận mà chưa kịp nói lời từ biệt. Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng mẹ Hợp vẫn đều đặn ra nghĩa trang vào mỗi dịp lễ Tết, chậm rãi đi qua từng tấm bia khắc dòng chữ “Liệt sĩ chưa biết tên” để thắp hương, cúi xuống thật lâu, đôi bàn tay gầy theo năm tháng cứ xoa vào tấm bia rồi khẽ hỏi trong lòng: “Phải chăng con nằm ở đây?”. Nỗi day dứt, khao khát ấy theo mẹ suốt cả cuộc đời, ăn sâu vào giấc mơ, trở thành một vết cắt không thể lành trong trái tim mẹ.
Khi nghe tin Công an tỉnh Hà Nam phối hợp với các cơ quan chức năng triển khai thu nhận mẫu sinh phẩm ADN để xác định danh tính liệt sĩ, mẹ Hợp vui lắm, lập tức bảo cháu chở đến trụ sở Công an xã. Dù lưng đã còng, chân run theo từng bước, mẹ vẫn kiên quyết tự đi, tay nắm chặt những tấm ảnh như nắm lấy một tia hy vọng le lói cuối cùng. “Tôi già rồi, chẳng sống được bao lâu nữa… Nhưng nếu nhắm mắt mà vẫn không biết các con mình đang nằm ở đâu thì lòng tôi không yên. Chỉ cần biết đúng mộ, để mỗi ngày giỗ tôi cắm được một nén nhang, thắp cho các con mình một ngọn lửa ấm…”- mẹ Hợp thì thầm, giọng lặng đi. Câu chuyện của mẹ Hợp không phải là duy nhất. Ở khắp các làng quê Hà Nam, còn biết bao gia đình như vậy, lặng lẽ sống cùng những bức ảnh thờ đã phai màu, những kỷ vật và một nỗi khắc khoải chung mang tên “Liệt sĩ chưa biết tên”.
Tại xã Thanh Tân, Thanh Liêm, Hà Nam, ông Nguyễn Tiến Lực, 71 tuổi, đến điểm thu mẫu với một túi giấy ố vàng bên trong là những kỷ vật ít ỏi của hai người anh trai. Gia đình ông Lực có 6 anh em gồm 4 trai và 2 gái thì trong đó có 3 người đi bộ đội. Người em gái là Nguyễn Thị Mẽ (SN 1959) may mắn trở về sau chiến tranh nhưng hai người anh của mình là liệt sĩ Nguyễn Công Sức hy sinh trong chiến trường Khe Xanh, người anh thứ hai là liệt sĩ Nguyễn Mạnh Dân cũng hy sinh tại chiến trường Quảng Trị trong mùa hè đỏ lửa năm 1972. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, dù đã nhiều lần đi khắp các chiến trường, địa danh nơi người thân đã chiến đấu, hy sinh nhưng gia đình ông Lực vẫn chưa tìm được phần mộ của các anh đang nằm ở đâu. “Hoàn cảnh gia đình khó khăn nên những chuyến đi dài ngày tìm kiếm phần mộ của các anh tôi cứ thưa dần. Tôi chỉ mong một ngày, phần mộ được tìm thấy và tên của các anh tôi được khắc lại trên bia đá, chứ không còn là “Liệt sĩ chưa rõ danh tính” nữa”- ông Lực nghẹn ngào.
Những mẹ Việt Nam anh hùng, thân nhân các anh hùng liệt sĩ chưa xác định được danh tính mong chờ mòn mỏi hàng thập kỷ để tìm lại phần mộ người thân.
Còn ở Thượng Tổ, phường Thanh Châu, TP Phủ Lý, bà Phạm Thị Nụ, nay đã hơn 90 tuổi, vẫn cẩn thận gói ghém di ảnh người anh trai là liệt sĩ Phạm Văn Thắng đã hy sinh anh dũng trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước để mang đến điểm thu mẫu. Hàng chục năm qua, bà Nụ vẫn luôn đau đáu, mong mỏi tìm kiếm hài cốt của người anh trai liệt sĩ. Gia đình có 5 anh em, người thì hy sinh vì độc lập, tự do, thống nhất non sông của Tổ quốc, người thì đến nay đã qua đời do tuổi cao sức yếu nên hiện tại chỉ còn duy nhất bà Nụ là chị gái còn sống. Tâm nguyện lớn nhất của bà Nụ là sớm tìm thấy phần mộ của anh trai mình, đưa về nghĩa trang quê nhà để đoàn tụ cùng với gia đình, người thân trước khi bà nhắm mắt xuôi tay.
Tấm ảnh trong tay bà Nụ run run, như đang sống lại một ký ức xa xăm tưởng chừng đã ngủ yên. Giống như bà Nụ, họ là những người cha, người mẹ, người anh, người chị, người con… đã mang hy vọng của mình gửi gắm trong một giọt máu nhỏ rơi vào ống nghiệm. Một giọt máu tưởng là đơn giản, nhưng với thân nhân các gia đình liệt sĩ lại là cả một chặng đường dài ngóng trông, là tất cả yêu thương dồn nén sau nửa thế kỷ đợi chờ. Mỗi giọt máu mang theo một lời hứa rằng những người đã ngã xuống vì đất nước, sẽ không bị lãng quên, sẽ được tìm thấy.
Trong lịch sử chống ngoại xâm hào hùng của dân tộc, vùng đất và con người Hà Nam đã có những đóng góp quan trọng, trong đó có sự kiện năm Ất Sửu 545 liên quan đến vị tướng Đinh Lôi, người Hà Nam.
Danh tướng nào của nghĩa quân Lam Sơn đã chém đầu Liễu Thăng?
Cách tổ chức quân đội nhà Trần: Giống quân đội La Mã
Lý Công Bình: Nhà khoa bảng 2 lần đánh bại Đế quốc Angkor
Bảo Đại - Nam Phương Hoàng hậu: "Tình yêu sét đánh” và số phận buồn của 5 người con
Mạc Kính Điển: Thần hộ mệnh của nhà Mạc
Danh tướng Đinh Lôi về dưới trướng Lý Bí
Bản thần tích được lưu giữ ở đình thôn Nguyễn Trung (xã Liêm Phong), đình Hòa Ngãi (xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm) đã cho biết khá chi tiết về thân thế, công trạng của Đinh Lôi. Theo đó, thời nhà Lương (Trung Quốc) thống trị nước ta có gia đình ông bà Đinh Phụng, Nguyễn Thị Thường sống ở trang Cát Đàm, nay thuộc thôn Nguyễn Trung, xã Liêm Phong. Ông Phụng mở trường dạy học, kiêm lương y chữa bệnh cho dân. Bà Thường quê trang Hương Ngãi (nay thuộc thôn Hòa Ngãi, xã Thanh Hà) là người hiền thục, nhân hậu. Cả hai ông bà đều được dân làng quí trọng, nhưng lại muộn đường con cái
Danh tướng người Hà Nam nào phò tá Triệu Quang Phục, đánh tan quân Lương?- Ảnh 1.
Cổng đình đá Nguyễn Trung, xã Liêm Phong (Thanh Liêm)
Ngoài 30 tuổi, bà Thường mới có mang, rồi ngày 10 tháng Giêng năm Giáp Ngọ (514) bà hạ sinh. Đứa bé sinh ra có nước da ngăm đen, mắt sáng. Nhớ lại điềm ứng mộng, ông bà đặt tên con là Đinh Lôi (Lôi nghĩa là sấm)
Đinh Lôi lớn lên thông minh, khỏe mạnh. Ông Phụng tìm thầy giỏi dạy văn chương, võ nghệ cho con. Đinh Lôi tiếp thu rất nhanh, đồng thời sớm biểu lộ lòng thương dân, yêu nước. Năm 15 tuổi, Đinh Lôi đã tinh thông văn võ, đặc biệt là tài bắn cung, nhưng cũng năm đó (529) cha mẹ ông lần lượt qua đời, đẩy Đinh Lôi sớm lâm vào cảnh mồ côi.
Lúc đó, Thứ sử Tiêu Tư nhà Lương đứng đầu bộ máy thống trị nước ta. 3 năm Đinh Lôi chịu tang cha mẹ cũng là thời gian nung nấu quyết tâm cứu nước. Hết tang cha mẹ, chàng thanh niên Đinh Lôi đi tìm người cùng ý chí ở quê nội, quê ngoại và trong vùng được hơn 5.000 người, khẩn trương luyện tập võ nghệ, binh pháp, thiết lập dinh đồn chờ thời cơ khởi sự.
Mùa Xuân năm Nhâm Tuất (542), Lý Bí quê ở Long Hưng (nay là tỉnh Thái Bình) phát động khởi nghĩa chống bè lũ thống trị nhà Lương. Được tin, Đinh Lôi bèn truyền mổ trâu bò khao quân rồi đưa đạo nghĩa binh của mình đến ra mắt Lý Bí. Thấy đạo quân dũng liệt, chỉ huy văn võ toàn tài Lý Bí phong cho Đinh Lôi làm Trung tướng quân cùng với Triệu Quang Phục - Tả tướng quân, Phạm Tu - Hữu tướng quân tấn công dũng mãnh trị thành Long Biên (Bắc Ninh). Quân Lương đại bại, tên đầu sỏ Tiêu Tư tháo chạy về nước.
Chưa cam chịu thất bại, đầu năm Quí Hợi (543), triều đình nhà Lương tổ chức lực lượng nhằm tái chiếm nước ta. Chủ động chặn giặc, theo lệnh của Lý Bí, Đinh Lôi cùng các tướng Phạm Tu, Triệu Quang Phục đem quân tấn công bán đảo Hợp Phố, đánh tan quân Lương ngay ở cửa ngõ nước ta. Đến đây cuộc khởi nghĩa do Lý Bí lãnh đạo hoàn toàn thắg lợi
Danh tướng người Hà Nam nào phò tá Triệu Quang Phục, đánh tan quân Lương?- Ảnh 2.Đình Hòa Ngãi, thôn Hòa Ngãi, xã Thanh Hà, huyệnThanh Liêm.
Tháng Giêng năm Giáp Tý (544), Lý Bí lên ngôi Hoàng đế, tự xưng là Nam đế (vua nước Nam) phủ định quyền thống trị của phong kiến phương Bắc. Nhà vua định đô ở Long Biên (Bắc Ninh), đặt niên hiệu là Đại Đức (đức lớn), cho dựng điện Vạn Thọ, chùa Khai Quốc trong kinh thành. Triều đình mới gồm hai Ban Văn, Võ được thiết lập. Đinh Lôi giữ chức cao trong Ban Võ. Đặc biệt, triều đình đặt quốc hiệu là Vạn Xuân biểu lộ sức sống mới của dân tộc, khôi phục danh xưng quốc gia sau 722 năm bị mất (kể từ năm 179 trước công nguyên Triệu Đà thôn tính nước Âu Lạc).
Sau khi lên ngôi, Lý Nam Đế xét định công lao của tướng sĩ để ban thưởng. Đinh Lôi lập nhiều công trạng được ban thưởng hậu hĩnh, rồi được nhà vua cử đi trị nhậm Hồng Châu (nay là tỉnh Hải Dương). Bái tạ nhà vua, ông xin về Nguyễn Trung, Hương Ngãi bái biệt dân làng, về quê, ông cho mổ trâu, bò, lợn gà... khao họ hàng, dân làng, lại tặng cho quê nội, quê ngoại 30 vạn tiền xanh để dân lo việc nhà nông, sửa sang đền miếu. Xong xuôi mọi việc, Đinh Lôi mới đến Hồng Châu nhậm chức.
Danh tướng Đinh Lôi phò tá Triệu Quang Phục, đánh tan quân Lương
Không từ bỏ dã tâm, đầu năm Ất Sửu (545) nhà Lương cử Dương Phiêu và Trần Bá Tiên thống lĩnh 30 vạn quân xâm lược nước Vạn Xuân non trẻ. Lý Nam Đế triệu các tướng bàn bạc kế sách chống giặc. Đinh Lôi được nhà vua thăng chức làm Đại tướng quân chỉ huy đạo quân 5 vạn người quản lĩnh vùng đất rộng lớn tương đương với lộ Sơn Nam thời Hậu Lê. Với sự chỉ huy tài giỏi của ông, quân ta chặn đánh giặc quyết liệt, có trận gây cho giặc thương vong nặng nề.
Tuy nhiên ở các hướng khác, thế quân Lương còn mạnh, quân ta gặp nhiều tổn thất. Tướng Phạm Tu tử trận. Lý Nam Đế giao binh quyền cho Triệu Quang Phục rồi lui về động Khuất Lão (Phú Thọ) tránh giặc.
Đinh Lôi hợp quân với Triệu Quang Phục cùng về đầm Dạ Trạch (Khoái Châu, Hưng Yên) lập căn cứ kháng chiến. Quân Lương tấn công nhiều trận nhưng đều thất bại.
Tháng 4 năm 548, Lý Nam Đế qua đời. Khi nghe tin vua mất, Triệu Quang Phục tự xưng là Triệu Việt Vương. Năm 550 nhà Lương loạn to, tướng Trần Bá Tiên đem quân về nước cướp ngôi nhà Lương, lập ra nhà Trần. Chớp thời cơ, Triệu Việt Vương có sự góp sức của Đinh Lôi đem quân tấn công thành Long Biên đánh tan quân Lương, giết tướng giặc Dương Sàn, giành lại độc lập cho nước Vạn Xuân.
Đất nước thanh bình, Đinh Lôi trở về quê quán để chăm lo khuyến khích nghề nông, mở trường dạy học cho trẻ em trong làng dù Triệu Việt Vương mời ông ở lại gánh vác việc triều đình.
Năm Tân Mão (571), Lý Phật Tử lên ngôi (Tức Hậu Lý Nam Đế), xét Đinh Lôi là người lập nhiều công trạng nên nhà vua sắc phong ông là Lôi Công Đại vương, cho lập sinh từ thờ phụng ngay khi còn sống. Đinh Lôi từ trần ngày 15 tháng 8 năm Nhâm Thìn trong chuyến đi thuyền lên kinh đô để tấu trình nhà vua ban sắc phong cho vị Thiên thần "Không Hoàng Hộ Quốc Đại vương" được thờ ở quê ngoại.
Cuộc kháng chiến năm Ất Sửu (545), có sự đóng góp quan trọng của Tướng quân Đinh Lôi mang ý nghĩa lịch sử lớn lao, đưa đến thắng lợi hoàn toàn của quân dân Vạn Xuân và giữ vững nền độc lập nước nhà hơn nửa thế kỷ. Năm 603 nước Vạn Xuân mới bị nhà Tùy thôn tính.
Đinh Lôi làm rạng danh vùng đất và con người Hà Nam vào giữa thế kỷ VI. Vị tướng có công lớn với nước, với dân được các triều đại phong kiến sau này tôn phong là "Thượng đẳng phúc thần". Dân làng Nguyễn Trung và Hòa Ngãi thờ ông làm Thành hoàng bảo trợ trong đình làng. Mẹ ông, bà Nguyễn Thị Thường được dân làng Hòa Ngãi lập miếu phụng thờ. Cùng với hai thôn Nguyễn Trung, Hòa Ngãi còn có 52 nơi khác cùng đón sắc chỉ phụng thờ Đinh Lôi.
Đinh Lôi - nhân vật lịch sử tiêu biểu, niềm tự hào của nhân dân Hà Nam.


