Bế Văn Đàn (7)
Bế Văn Đàn sinh năm 1931 hi sinh năm 1953, là người dân tộc Tày, quê ở xã Quang Vinh (nay là xã Bế Văn Đàn, tỉnh Cao Bằng). Ông xuất thân trong một gia đình nghèo có truyền thống cách mạng. Mẹ ông mất sớm, còn cha ông làm thợ mỏ.
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
BẾ VĂN ĐÀN
Chiến trường khốc liệt, nơi thấm đẫm những mất mát và đau thương, là nơi sinh ra bao tấm gương anh hùng bất khuất. Những người anh hùng từ các cuộc kháng chiến hào hùng đã hi sinh anh dũng để lại nhiều bài học và là tấm gương cho thế hệ Đoàn viên, sinh viên luôn ghi nhớ công lao của họ. Trong những cuộc chiến khống liệt ấy người lính như ngọn lửa vững chãi đối diện và lao qua cơn bão của cuộc chiến. Trái tim sục sôi một niềm tin chiến thắng, thân mình họ là tấm khiên chắn che chở cho đồng đội, hai bàn tay cũng có thể làm vũ khí quyết không hàng kẻ địch và giành lại độc lập cho quê hương Tổ quốc. Có không ít người lính họ là người con, người cha, và người mẹ quyết dũng cảm chiến đấu hi sinh đánh đổi mạng sống vì độc lập tự do dân tộc.
Trong chiến cuộc Đông Xuân năm 1953-1954 kháng chiến chống Pháp, diễn ra trận quyết chiến Điện Biên Phủ là một trong những trận đánh vang dội và khốc liệt đưa Việt Nam lên tầm cao mới, khẳng định sức mạnh của quân đội ta. Chiến tranh kết thúc hòa bình được lập lại, ấy thế nhưng những mảnh đời non trẻ đã mãi nằm lại trên chiến trường mang trong tim bao ước mơ còn đang dang dở. Lòng gan dạ và quyết tử của họ vĩ đại vô cùng mà trong đó ta không thể quên được hình ảnh người anh hùng liệt sĩ trẻ tuổi Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng tiêu biểu cho tinh thần hi sinh và tấm lòng yêu nước cao cả.
Bế Văn Đàn sinh năm 1931 hi sinh năm 1953, là người dân tộc Tày, quê ở xã Quang Vinh (nay là xã Bế Văn Đàn, tỉnh Cao Bằng). Ông xuất thân trong một gia đình nghèo có truyền thống cách mạng. Mẹ ông mất sớm, còn cha ông làm thợ mỏ.
Cuộc khánh chiến chống Pháp đang diễn ra khốc liệt. Chúng điên cuồng mở đường tiến, đơn vị thương vong nhiều, chỉ còn 17 người, bản thân Bế Văn Đàn cũng bị thương. Một khẩu trung liên của đơn vị không bắn được vì xạ thủ hy sinh. Khẩu trung liên của đồng đội cũng chưa bắn được vì không có chỗ đặt súng, tình thế hết sức khẩn trương, không ngần ngại Bế Văn Đàn chạy lại cầm hai chân khẩu trung liên đặt lên vai mình và hô bạn bắn. Đồng chí Pù còn do dự thì Bế Văn Đàn đã nói: “kẻ thù trước mặt, đồng chí có thương tôi thì bắn chết chúng nó đi”. Đồng chí nghiến răng nổ súng vào đội hình quân địch tiêu diệt hàng chục tên, địch hoảng hốt bỏ chạy, đợt phản kích của chúng bị bẻ gẫy. Trong lúc lấy thân mình làm giá súng, Bế Văn Đàn bị hai vết thương nữa và đã anh dũng hy sinh, hai tay vẫn còn ghì chặt súng trên vai mình.
Theo lời kể của ông Chu Văn Pù, quê Lạng Sơn - người cùng Bế Văn Đàn chiến đấu ở dốc Mường Pồn trong chiến dịch Điện Biên Phủ về trận chiến cuối cùng của anh hùng Bế Văn Đàn: "Ngay từ sáng sớm, quân địch chưa tràn xuống dốc Mường Pồn, thì Bế Văn Đàn đã bị thương vào đầu do mảnh đạn moóc – chi – ê của địch, sau khi Chu Văn Pù băng lại vết thương cho Bế Văn Đàn và khuyên Đàn lui về phía sau nhưng Bế Văn Đàn nhất quyết ở lại cùng Chu Văn Pù chiến đấu. Trong suốt thời gian liên tục 6 tiếng đồng hồ phải cắn răng chịu đựng sự đau đớn của vết thương trên đầu đã là quá sức lắm rồi, vậy mà suốt 4 tiếng đồng hồ tiếp theo đến hơi thở cuối cùng, Bế Văn Đàn đã lấy thân mình làm giá súng để đồng đội đánh lui 5 đợt tấn công của địch cho đến khi thắng lợi hoàn toàn.
Tấm gương hy sinh oanh liệt đó của Bế Văn Đàn là biểu tượng cho ý chí quyết chiến, quyết thắng của quân đội Việt Nam ta, đã trở thành bất tử và tỏa sáng muôn đời. Tấm gương dũng cảm của Bế Văn Đàn đã cổ vũ cán bộ, chiến sĩ trên toàn mặt trận hăng hái thi đua giết giặc lập công, góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu.


