Khác

Bình Trung trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc 1945 - 1954 (nay thuộc xã Nghĩa Tá, tỉnh Thái Nguyên) Kỳ 1 từ 1945 -1950

Bình Trung trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc 1945 - 1954 (nay thuộc xã Nghĩa Tá, tỉnh Thái Nguyên) Kỳ 1 từ 1945 -1950

Thái Nguyên16/03/2026Nghĩa Tá sựu tầm (Đoàn xã Nghĩa Tá)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau khi phát động toàn quốc kháng chiến, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định di dời cơ quan đầu não về lại căn cứ địa Việt Bắc. Trong thời gian đó, thực dân Pháp đã tiến hành đánh chiếm nhiều khu vực, đặc biệt là khu vực nội thành Hà Nội.

Trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, tại Bắc Kạn và Chợ Đồn nói chung, xã Thành Công nói riêng chưa có chiến sự xảy ra. Vận dụng kinh nghiệm bảo vệ cán bộ, bảo vệ cơ sở cách mạng trong thời kỳ bí mật, Đảng ta chủ trương xây dựng an toàn khu (ATK) làm nơi ở và nơi làm việc của Trung ương, Chính phủ và Hồ Chủ tịch. Cùng với các huyện Định Hóa, Đại Từ (Thái Nguyên), Yên Sơn, Sơn Dương, Chiêm Hóa (Tuyên Quang), Chợ Đồn được chọn làm nơi xây dựng ATK của cuộc kháng chiến toàn quốc.

Là một xã miền núi nằm sâu trong núi rừng Việt Bắc, có địa thế hiểm trở, cách xa quốc lộ, lại giành chính quyền sớm (3-1945) nên Thành Công là một trong những địa điểm được Trung ương chọn làm nơi tiếp nhận các cơ quan, công xưởng của Trung ương, Chính phủ và liên khu di chuyển đến.

Thực hiện kế hoạch tổng di chuyển các cơ quan, công xưởng của Trung ương lên Việt Bắc, cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc Chợ Đồn nói chung, xã Thành Công nói riêng đều tích cực chuẩn bị lực lượng, sẵn sàng tạo mọi điều kiện và bảo vệ an toàn các cơ quan của Trung ương và của tỉnh lúc đó đóng ở địa phương.

Công tác xây dựng căn cứ địa được tiến hành toàn diện trên tất cả các mặt: xây dựng cơ sở chính trị, quân sự, kinh tế, địa điểm các cơ quan Trung ương sẽ chuyển đến[1]. Con đường đèo So từ Định Hóa (Thái Nguyên) lên Chợ Đồn một ngả ra Bắc Kạn đi qua khu Yên Nhuận và Phong Huân, một ngả lên Nghĩa Tá qua Bằng Lũng sang khu Tây (Yên Thượng, Yên Thịnh, Bản Thi) đã trở thành huyết mạch và yết hầu của công cuộc chuẩn bị kháng chiến.

Không khí và nhịp độ hoạt động xây dựng ATK của xã rất khẩn trương. Ban ngày nhân dân tích cực tăng gia sản xuất, vào rừng chặt vàu, nứa làm lán trại, tạm di, tạm lánh để nhường nhà sàn to rộng cho các cơ quan của Trung ương mới chuyển đến tạm trú. Đêm đến ai nấy lại tìm đến các đoàn thể cứu quốc học bình dân học vụ, sinh hoạt đoàn thể, bàn bạc công việc kháng chiến, toàn dân trong xã sôi nổi chuẩn bị sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc.

Phong trào “Mùa đông chiến sỹ” được phát triển rộng rãi ở tất cả các thôn bản. Đến cuối năm 1946, đầu năm 1947, nhân dân các tiểu khu đã quyên góp, ủng hộ được 347 đồng tiền Đông Dương. Trong đó tiểu khu Phong Huân được 51,4 đồng, tiểu khu Yên Nhuận được 14,6 đồng, tiểu khu Nghĩa Tá 169 đồng, tiểu khu Lương Yên được 100 đồng, tiểu khu Yên Mỹ 12 đồng.

Để lưu thông khi cần thiết với các xã bạn, Ủy ban hành chính xã đã lập 1 ban giao thông hỏa tốc, tuyến giao liên từ xã lên huyện gồm 12 người: Nghĩa Tá 3 người, Phong Huân 3 người, Yên Nhuận 3 người, Lương Yên 2 người và 1 người làm giao liên từ tiểu khu lên xã.

Tháng 2-1947, Ủy ban hành chính xã giao cho các tiểu khu làm các việc: vận động nhân dân đi học bình dân học vụ, đi đào hầm hào ở trên châu lỵ Chợ Đồn, lấy người làm cơ quan ở xã, đào hầm hào từng nhà, mỗi nhà nộp một đồng để xây dựng nhà chợ ở châu Chợ Đồn. Chuẩn bị cho công cuộc kháng chiến lâu dài Chi bộ Đảng đã huy động được 65 người đi phá hoại con đường từ Bắc Kạn vào Chợ Đồn.

Chấp hành chỉ thị của Liên khu và Tỉnh ủy, sau ngày toàn quốc kháng chiến, đầu năm 1947, Ủy ban kháng chiến xã Thành Công được thành lập để chỉ đạo nhân dân chuẩn bị mọi công tác cho kháng chiến. Sau một thời gian hoạt động, thực hiện Sắc lệnh số 91/SL ngày 1-10-1947 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ủy ban kháng chiến và Ủy ban hành chính được sáp nhập thành Ủy ban kháng chiến kiêm hành chính[2].

Quán triệt tinh thần Chỉ thị “Toàn dân kháng chiến” của Trung ương Đảng, công tác quân sự được đặt lên hàng đầu nhằm đối phó với khả năng chiến sự có thể lan tới địa phương và giữ gìn an ninh bảo vệ các cơ quan Trung ương.

Thực hiện Nghị quyết của Ủy ban hành chính xã họp ngày 24-4-1947, nhân dân các dân tộc xã Thành Công đều vào rừng chặt những cây vàu, nứa già, thẳng, cứng, dài từ 4-5m vót nhọn làm chông để chống quân Pháp nhảy dù, tập kích vào sâu trong chiến khu, để phá hoại hậu phương của ta. Trong mỗi gia đình, dọc các đường đi nhân dân đều đào hầm, hào để phòng khi máy bay địch đến oach tạc, một số người được cử lên đào hầm cho cơ quan huyện Chợ Đồn. Chỉ sau hơn 2 tuần, hàng trăm hầm hào đã được đào xong, các khu đã hoàn thành việc cắm chông ở những nơi có khả năng địch thả dù xuống.

Song song với công tác củng cố hậu phương về các mặt: công tác chuẩn bị sẵn sàng, chiến đấu bảo vệ khu căn cứ, Ủy ban kháng chiến hành chính đã lập các đội dân quân, khu du kích ở khắp các tiểu khu và đã biên chế được một lực lượng cả thanh niên nam, nữ, phân công nhiệm vụ rõ ràng. Theo đó, khu Nghĩa Tá có 6 tiểu đội nam dân quân gồm 58 người, 8 tiểu đội nữ dân quân gồm 82 người; khu Yên Nhuận có 9 tiểu đội nam dân quân gồm 120 người, 9 tiểu đội nữ dân quân gồm 139 người; khu Lương Yên có 2 tiểu đội nam dân quân gồm 29 người, 2 tiểu đội nữ dân quân gồm 21 người; khu Phong Huân có 7 tiểu đội nam dân quân gồm 84 người, 6 tiểu đội nữ dân quân gồm 51 người.Khi có chiến sự dân quân du kích nam chiến đấu vòng ngoài, điều động đi các tiểu khu khi cần thiết, phụ nữ trực tiếp bảo vệ ở ngay làng bản. Vũ khí được trang bị chủ yếu là súng kíp, giáo, mác, dao phay, gươm, nỏ. Riêng du kích nam có thể thêm 1 số súng dóp 5, dóp 3, khai hậu.

Nhìn chung số lượng đơn vị dân quân, du kích và số người tham gia của xã nhiều và rộng khắp, tinh thần xung phong hăng hái, tổ chức chặt chẽ, biên chế và chỉ huy lãnh đạo thống nhất.

Ngày 8-9-1947, thực dân Pháp cho 2 máy bay đến lượn vòng trên mỏ Bản Thi. Một chiếc máy bay của địch bị trúng đạn của tự vệ, bay đến Pác Cha (cuối thôn Tân Trung, xã Thắng Lợi hồi đó, cuối thôn Vằng Quân, xã Bình Trung ngày nay) thì rơi, tên phi công bị thiêu cháy. Thi hành chỉ thị cấp trên, Ủy ban kháng chiến hành chính xã đã huy động 80 dân công đến thu dọn xác máy bay (chia thành 34 khiêng, 10 gánh) chuyển từ Pác Cha đến Cạm Chua - Đông Viên chuyển giao cho huyện.

Ngày 7-10-1947, thực dân Pháp tập trung 12.000 quân tinh nhuệ được trang bị đầy đủ vũ khí phương tiện hiện đại mở cuộc tấn công đánh thẳng vào khu căn cứ địa Việt Bắc hòng tiêu diệt bộ máy chỉ đạo cuộc kháng chiến của ta. Chúng cho binh đoàn đường không Xô-Va-Nhắc nhảy dù chiếm đóng thị xã Bắc Kạn, Chợ Mới.

Ngày 8-10-1947, chúng thả 200 quân dù xuống Chợ Đồn, thực hiện hai gọng kìm: Binh đoàn Bô-Phơ-Rê từ Lạng Sơn theo Quốc lộ 4 lên Cao Bằng bao vây căn cứ địa Việt Bắc từ phía Bắc. Binh đoàn bộ binh và lính thủy đánh bộ Com-Muy-Nan từ Hà Nội ngược sông Hồng, sông Lô, sông Gâm lên Chiêm Hóa - Tuyên Quang hẹn gặp nhau ở Đài Thị - Chiêm Hóa - Tuyên Quang vào trưa ngày 13-10-1947.

Do chủ quan và bị bất ngờ, lực lượng vũ trang Chợ Đồn đã bỏ lỡ cơ hội diệt địch ngay từ khi chúng vừa mới nhảy dù xuống khu vực châu lỵ (xã Phương Viên). Trước tình hình đó, Trung ương, khu và tỉnh kịp thời có những chủ trương hướng dẫn địa phương sớm khắc phục sự bị động, lúng túng ban đầu.

Ngày 10-10-1947, hàng trăm tên địch vượt đèo Kéo Phay về Yên Thịnh, Bản Thi. Trung đội du kích huyện Chợ Đồn đã phối hợp với học sinh trường võ bị Trần Quốc Tuấn bắn chết 80 tên.

Từ ngày 18-10-1947 đến ngày 22-10-1947, đồng chí Dương Thiết Sơn - Bí thư Tỉnh ủy Bắc Kạn đã vượt vòng vây của địch từ thị xã Bắc Kạn vào Chợ Đồn, xuống Phong Huân mở hội nghị tại Nà Bjóoc để quán triệt chỉ thị Trung ương: Củng cố chính quyền cơ sở khi giặc nhảy dù chiếm Chợ Đồn. Tích cực thu hoạch xong lúa mùa và cất giấu kỹ. Xây dựng, củng cố lực lượng võ trang để bảo vệ nhân dân và cơ quan cấp trên chuyển đến sẵn sàng đánh địch khi chúng liều lĩnh đến.

Sau hội nghị này, khí thế chống giặc Pháp càng được nâng lên, nhân dân vững tin ở sự lãnh đạo của Tỉnh ủy. Huyện thành lập 32 đội tự vệ với 564 đội viên trong đó có 14 đội tự vệ nữ với 273 đội viên, tiếp tục cử 91 dân công đi phá cầu đường, nhà cửa ở Bắc Kạn, riêng xã Thành Công (trong đó có Bình Trung) đã có hàng chục người tham gia. Lực lượng thay nhau tuần tra canh gác đường trục chính từ đèo So qua Bình Trung (có một trạm ở Cốc Lùng - Bản Điếng) lên Nghĩa Tá.

Không đạt được âm mưu lùng sục cơ quan đầu não kháng chiến và tiêu diệt chủ lực của ta, lại bị đánh tiêu hao sinh lực địch phải rút lui dần. Ngày 20-10-1947, địch rút khỏi Bản Thi, Yên Thịnh. Ngày 3-11-1947, chúng rút khỏi Chợ Đồn. Chợ Đồn được giải phóng hoàn toàn, ATK được giữ vững.

Để động viên và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, Đảng đã củng cố và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất ở cơ sở, thu hút đồng bào các dân tộc trong xã tham gia và ủng hộ kháng chiến, trước mắt là bảo vệ an ninh, trật tự, giữ vững ATK.

Thi hành chỉ thị của cấp trên, qua mấy ngày tết năm 1948, Ủy ban kháng chiến hành chính xã đã phối hợp với các khu về củng cố và xây dựng chiến khu, trước mắt vận động nhân dân các dân tộc trong khu tích cực tăng gia sản xuất, làm đất để cấy lúa sớm vụ mùa. Vụ xuân chủ yếu trồng cây ngô và các cây hoa màu khác như khoai, đỗ… chăn nuôi phát triển đại gia súc và gia cầm. Xã giải quyết lập quỹ nghĩa thương để cứu giúp những hộ thiếu đói, vận động và hạn chế việc những hộ có nhiều thóc cho vay nặng lãi. Phong trào bình dân học vụ ở các tiểu khu phải được duy trì thường xuyên. Tiếp tục củng cố 3 trường phổ thông nửa cấp ở Nghĩa Tá, Phong Huân (trường Tông Quận), trường Yên Nhuận (Bản Noỏng) cho kế hoạch sang năm 1948 để mở trường phổ thông toàn cấp.

Để nâng cao trình độ và năng lực công tác cả về chính trị lẫn tư tưởng, chấp hành chỉ thị của Đảng bộ huyện Chợ Đồn, Chibộ xã Thành Công đã tiến hành họp vào ngày 17-2-1948, đề ra 4 công tác mới: củng cố chi bộ, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về Đảng, công tác lãnh đạo của Đảng và ra thông báo: sau khi tuyên truyền những đối tượng có triển vọng kết nạp sẽ lên Châu ủy huấn luyện, tập trung ngày 24-2-1948 trong thời gian 10 ngày, mang theo 30 đồng và 13 ống gạo (1 ống bằng 0,7kg). Đặc biệt là thành viên, hội viên, đoàn viên trong Hội Phụ nữ cứu quốc, Đoàn Thanh niên, tổ chức chính quyền, lực lượng tự vệ dân quân lấy tiêu chuẩn người đảng viên là mục tiêu phấn đấu của mình.

Đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, Ban Chi ủy đã chú ý bồi dưỡng trình độ văn hóa cho các đảng viên chưa biết đọc, biết viết phải theo học lớp bình dân học vụ bắt buộc. Các đảng viên đã biết đọc, biết viết phải đi học các lớp bổ túc do xã hoặc huyện mở. Đối với các đồng chí là cán bộ đang công tác phải đi dự các lớp lý luận, nghiệp vụ do cấp trên mở. Bên cạnh đó, Ban Chi ủy còn tổ chức mở các cuộc sinh hoạt chính trị cho đảng viên ở các tổ tiến hành tự phê bình và phê bình, nâng cao tính Đảng, tính giai cấp. Là đảng viên phải kiên quyết đấu tranh với những tàn dư phong kiến, tiểu tư sản, địa phương chủ nghĩa, dân tộc hẹp hòi, tự do vô kỷ luật.

Sự lớn mạnh của Chi bộ Đảng ở xã cả về chất lượng lẫn số lượng cho phép mỗi thôn thành lập một tổ Đảng để có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với quần chúng. Cả xã chia làm 5 tổ: Phong Huân, Quảng Bình, Khau Pa, Yên Nhuận và Chỉ Mỹ.

Dưới sự chỉ đạo của Châu ủy Chợ Đồn, Chi bộ Đảng coi trọng, củng cố và phát triển công tác xây dựng Đảng. Trong khi kết nạp những hạt nhân thực sự ưu tú vào Đảng đồng thời phải kiên quyết xử lý những đảng viên thoái hóa biến chất ra khỏi tổ chức Đảng. Từ năm 1946 đến 2-1950, Chi bộ đã phải kỷ luật Đảng 55 đồng chí, trong đó phải khai trừ 9 đồng chí, cảnh cáo 4 đồng chí, phê bình khiển trách 2 đồng chí. Tổ Đảng Quảng Bình tổn thất rất lớn, trong 10 đồng chí có 8 đồng chí bị khai trừ cùng một lúc, còn lại 2 đồng chí phải ghép vào tổ Khau Pa để sinh hoạt. Thôn Phong Huân có 8 đồng chí đã phải khai trừ 1 đồng chí.

Để tạo cơ sở thuận tiện cho cơ quan Trung ương chuyển đến, dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ và chính quyền châu Chợ Đồn, chi bộ và chính quyền xã đã huy động hàng trăm lượt dân công đi chặt cây, chặt lá cọ dựng, lợp nhà cơ quan, thực hiện “vườn không nhà trống”.

Hưởng ứng phong trào “vườn không nhà trống” của Ủy ban cách mạng lâm thời châu Chợ Đồn, hầu hết các gia đình ở Bình Trung đều làm lán sơ tán vào rừng. Nhân dân Bản Điếng và Nà Phầy sơ tán vào khe Khuổi Nọi (1946-1947).Người già, trẻ em, lương thực, thực phẩm chuyển vào nơi sơ tán, lực lượng trẻ khỏe vẫn bám ruộng đồng để đảm bảo tăng gia sản xuất và sẵn sàng chống kẻ thù.


[1]. Trên thực tế một số cơ quan nhỏ hoặc từng bộ phận đã chuyển đến. [2]. Năm 1948, Ủy ban kháng chiến kiêm hành chính được đổi thành Ủy ban kháng chiến hành chính.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn