Khác

Bình Trung trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc 1945 - 1954 (nay thuộc xã Nghĩa Tá tỉnh Thái Nguyên) kỳ 2 1950 - 1954

Bình Trung trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc 1945 - 1954 (nay thuộc xã Nghĩa Tá tỉnh Thái Nguyên)

Thái Nguyên16/03/2026Nghĩa Tá sựu tầm (Đoàn xã Nghĩa Tá)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1950-1951, Trung ương quyết định xây dựng Hội trường 8 mái ở Nà Kham thuộc bản Nà Quân. Chính tại hội trường 8 mái này, nhân dân xã Thành Công được biết thế nào là ca, múa, nhạc, kịch do các cơ quan Trung ương ở đây tổ chức để cơ quan cùng nhân dân xem chung và cũng lần đầu tiên các dân tộc thấy bóng đèn điện. Thông qua những buổi chiếu bóng(xi-nê), lần đầu tiên nhân dân các dân tộc xã Thành Công được tận mắt nhìn thấy những trận đánh ác liệt của Hồng quân Liên Xô chống quân xâm lược phát xít Đức như bộ phim “Công phá ba linh”, Trung Quốc có “Bạch mao nữ” và một số phim giới thiệu về đất nước Trung Hoa “Kháng Mỹ Viện Triều” ít nhiều đã làm cho các dân tộc ở Thành Công có một ấn tượng về hình tượng nghệ thuật của các nước tiên tiến trong phe dân chủ nhân dân, càng tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống xâm lược vì có Liên Xô và Trung Quốc ở bên cạnh.

Để làm trong sạch khu ATK, lực lượng tự vệ, dân quân, du kích luôn trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Khi giặc Pháp chiếm đóng Chợ Đồn và sau này rút ra Bắc Kạn, du kích xã đã thay nhau lên bổ sung cho đội du kích cơ động của huyện bảo vệ các cơ quan, kho tàng hậu cần của Trung ương, canh gác hoặc chặn đánh các cuộc hành quân của giặc từ Bắc Kạn vào Chợ Đồn, bảo vệ cho dân công phá hoại đường Bắc Kạn - Chợ Đồn.

Cuộc kháng chiến chống Pháp ngày càng trở nên ác liệt. Hàng năm, Chi bộ đều huy động nhiều đợt dân công đi phá hoại thị xã Bắc Kạn phòng khi Pháp nhảy dù. Khi Trung ương chuyển một số cơ quan lên, xã đã huy động dân quân và thanh niên xung phong đi vận chuyển, xây dựng lán trại. Sang năm 1951-1952, thực dân Pháp phát hiện ra Quốc lộ 3 là con đường huyết mạch của cuộc kháng chiến, nối liền căn cứ địa Việt Bắc ra quốc tế, nên chúng thường xuyên cho máy bay bắn phá liên tục cả ngày lẫn đêm nhất là chỗ yết hầu đoạn qua xã Nông Hạ (huyện Bạch Thông). Để đảm bảo giao thông thông suốt, hàng năm, Chi bộ, chính quyền xã Thành Công thường xuyên huy động 3-4 lần dân công đi vá đường, mỗi đợt trên 200 người, có đợt 215 người, đợt trước chưa về, đợt sau đã lên đường. Những đợt ta mở chiến dịch Tây Bắc, chiến dịch Điện Biên phủ, số lượng người đi dân công làm đường ngày càng nhiều.

Trước tình hình huy động lớn nhân lực trẻ, khỏe ra tiền tuyến với hàng trăm thanh niên nhập ngũ qua các đợt tuyển quân, nên lực lượng sản xuất hậu phương bị giảm rất nhiều. Thi hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng bộ tỉnh và huyện, Chi bộ đã phát động phong trào học tập kinh nghiệm sản xuất và tổ chức tổ đổi công của anh hùng lao động Hoàng Hanh và Trịnh Xuân Bái. Để giúp đỡ nhau tăng gia sản xuất ở địa phương thay người ra đi phục vụ tiền tuyến, chỉ trong một thời gian ngắn các thôn bản đã thành lập 40 tổ đổi công. Để người ở hậu phương và người ra tiền tuyến được yên tâm, Chi bộ và Ủy ban kháng chiến hành chính xã đã thành lập Ban chống đói do đồng chí Chủ tịch xã làm Trưởng ban. Ban chống đói đã tỏa về thôn bản và các tổ đổi công hướng dẫn những hộ có nhiều lương thực cho vay mượn không tính lãi, trồng giống khoai lang 3 tháng, những gia đình có ruộng thiếu người làm nhường cho nhau mượn cấy. Đời sống nhân dân được cải thiện, tình trạng thiếu đói giảm. Năm 1949, toàn xã thu được hơn 7 tấn gạo công lương. Để chuẩn bị cuộc tổng phản công, Đảng và Chính phủ đã phát hành công trái và vận động toàn dân mua trái phiếu quốc gia được gần 5 vạn đồng (tiền tài chính), nhân dân Thành Công (trong đó có Bình Trung) mua công trái chủ yếu bằng thóc gạo.

Cuộc kháng chiến ngày càng phát triển thì nhu cầu cho kháng chiến ngày càng lớn. Để đáp ứng một cách chủ động nhu cầu về vật chất cho kháng chiến, Chính phủ phải nắm chắc một khối lượng vật chất lớn dựa trên việc huy động một cách có kế hoạch sự đóng góp của nhân dân. Ngày 1-5-1951, Chính phủ ra Sắc lệnh về cải tiến chế độ thuế khóa, trong đó có việc thực hiện thuế nông nghiệp là thứ thuế chủ yếu ở nông thôn. Sắc lệnh nêu rõ mục đích thuế nông nghiệp là đảm bảo cung cấp cho nhu cầu kháng chiến, phát triển sản xuất nông nghiệp, làm cho sự đóng góp của nhân dân được đơn giản, công bằng và hợp lý. Nguyên tắc lũy tiến áp dụng để tính thuế, thu nhập cao thì thuế suất cao, việc thực hiện thuế nông nghiệp cũng là cuộc vận động lớn, có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Chi bộ cũng xác định trong quá trình tiến hành công tác làm thuế phải tăng cường công tác vận động tuyên truyền giáo dục. Từ tháng 7-1951, chi bộ xã đã tổ chức học tập nội dung và ý nghĩa của chính sách thuế đối với kháng chiến và xác định trách nhiệm của mỗi đảng viên với cuộc vận động. Chính sách thuế mới này ít nhiều đụng chạm tới quyền lợi cá nhân của người nông dân.

Năm 1951-1952, xã có 5 thôn là: Yên Mỹ, Yên Nhuận, Khau Pa, Quảng Bình, Phong Huân với 313 hộ. Số hộ chịu thuế là 279 hộ. Trong số 1.833 nhân khẩu của xã có 1.788 nhân khẩu phải đóng thuế nông nghiệp. Cuối năm 1952, tính cả thuế chính tang và phụ thu, cả xã phải đóng 133.000kg thuế nông nghiệp.

Huyện ủy đã cử cán bộ xuống xã giúp đỡ hướng dẫn cùng phối hợp đến các thôn xác định nhân khẩu, sản lượng, ruộng đất và mức thu hoạch bình quân và số thuế phải nộp của mỗi hộ thông qua các cuộc họp bình nghị dân chủ.Quần chúng thấy rõ mục đích ý nghĩa và tính chất công bằng hợp lý của chính sách nên hăng hái phấn khởi tham gia nộp thuế đúng kỳ hạn.

Kết quả, năm 1951 là năm đầu tiên nộp thuế nông nghiệp bằng thóc, toàn xã nộp được 117,507 tấn. Sang năm 1952, theo chủ trương của Đảng và Nhà nước được sự hướng dẫn của Đảng bộ huyện Chợ Đồn tiếp tục chỉnh lý và sửa những sai sót khi kê khai nên sau khi chỉnh lý số thuế nông nghiệp của xã nộp được là 133.760kg đạt chỉ tiêu trên giao. Chi bộ đã lãnh đạo nhân dân trong xã nâng cao sức sản xuất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu thời chiến, ăn no, mặc ấm góp phần vào cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi.

Trên mặt trận văn hóa, dưới sự lãnh đạo của Chi bộ xã, đồng bào các dân tộc cũng đã đạt được nhiều thành tựu, nền văn hóa ngu dân, nô dịch của thực dân Pháp dần bị xóa bỏ. Đời sống văn hóa của đồng bào các dân tộc trong xã đi theo phương hướng của một nền văn hóa đổi mới. Các tệ nạn xã hội như trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút, mê tín dị đoan giảm rất nhiều.

Trong hoàn cảnh kháng chiến còn rất nhiều khó khăn về tài chính, cơ sở y tế, thầy thuốc chữa bệnh cũng không có. Thực hiện nếp sống mới trong ma chay, cưới xin: Tiền táng hậu tế, không thách cưới.

Từ năm 1949-1950 xã đã cử mỗi thôn một người đi học y tá rồi về thôn để chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, nhất là khâu đỡ đẻ cho hợp vệ sinh. Tổ chức nhiều cuộc vận động nhân dân ăn sạch, ở sạch, ăn chín, uống sôi, làm chuồng trâu xa nhà, thu gom phân để bón ruộng, diệt ruồi, muỗi. Phương châm là phòng bệnh hơn chữa bệnh. Suốt 9 năm kháng chiến xã không có bệnh dịch xảy ra, bệnh sốt rét giảm hẳn.

Cùng với những thắng lợi về chính trị, kinh tế, công tác giáo dục phát triển nhanh chóng và vững chắc. Phong trào bình dân học vụ phát triển rầm rộ nên hàng trăm người đã thoát nạn mù chữ. Số người thoát nạn mù chữ trong độ tuổi ở xã đạt hơn 50%. Đối với các cán bộ chủ chốt hoặc đang công tác bắt buộc phải đi học để nâng cao năng lực công tác lâu dài.

Đối với giáo dục phổ thông, chủ trương của Đảng thực hiện nền giáo dục dân chủ từ bậc tiểu học trở lên thuộc hệ thống quốc gia. Từ năm 1947-1948 xã nhà chỉ có một trường nửa cấp tiểu học từ lớp 1 đến lớp 2 ở Tông Quận, ngoài ra ở các thôn xa trung tâm có thêm mỗi thôn 1 trường nửa cấp tiểu học có từ lớp 1 và lớp 2 gồm trường Bản Tuốm thuộc thôn Tân Trung, trường Đon Mạ thuộc thôn Yên Nhuận, trường Bản Vọng thuộc thôn Chỉ Mỹ. Hai thôn Phong Huân và Khau Pa nằm ở gần trung tâm, do đó đã thu hút các em trong độ tuổi đi học đến trường. Năm 1951 huyện Chợ Đồn bắt đầu mở trường cấp II.

Năm 1951, trên địa bàn xã có phân trường cấp I của trường Nghĩa Tá, gồm 1 lớp vỡ lòng, lớp 1 và lớp 2 ghép đặt ở Nà Nau, mỗi lớp có 10 học sinh, bàn ghế còn đơn sơ chủ yếu bằng cây vầu ghép, do thầy Nguyễn Đức Giai (xã Phương Viên) dạy.

Sau hơn một năm phát động, các lớp bổ túc và bình dân học vụ phát triển rầm rộ, chính quyền đã mở 3 trường phổ thông, cử ông Ma Doãn Sinh đi dạy trường Nghĩa Tá thuộc Tiểu khu II và trường Lương Yên. Mở trường Tông Quận cho tiểu khu Phong Huân và Quảng Bình do ông giáo Đô (xã Đông Viên) dạy. Tiểu khu Yên Nhuận và Chỉ Mỹ học ở trường Bản Noỏng. Ông Ma Doãn Thành dạy ở trường Lương Yên, ông Ma Văn Thường dạy ở Bản Ca.

Thực hiện khẩu hiệu tự túc, tự cấp trong kháng chiến, nhiều hộ đã trồng bông dệt vải để may quần áo, dệt thổ cẩm làm mặt chăn, địu trẻ em, đan nón lợp bằng lá cọ bền đẹp, trồng cói đay để dệt chiếu trong gia đình.

Ban Thông tin tổ chức ở mỗi thôn có 1 thông tin viên để thông báo tin chiến thắng từ mọi nơi gửi về, thông báo về nộp thuế và tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đến nhân dân.

Năm 1953, trước nguy cơ thất bại tại Đông Dương, thực dân Pháp đã cử tướng Nava sang làm tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương. Nava đã đề ra kế hoạch Nava, tập trung lực lượng, giành thắng lợi trong vòng 18 tháng. Theo đó, Nava đã tập trung lực lượng cơ động mạnh ở chiến trường chính Bắc Bộ, mở các đợt hành quân càn quét nhằm tiêu diệt lực lượng của ta.

Thực hiện chủ trương của Đảng về mở cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 tiến đánh địch trên nhiều mặt trận để vừa phân tán địch vừa đánh tiêu hao sinh lực địch, trong đó hướng chính là đánh Pháp ở Tây Bắc, đồng thời mở các chiến dịch Thượng Lào, Hạ Lào, Đông Bắc Lào và Tây Nguyên buộc quân Pháp phải phân tán lực lượng ra các chiến trường.

Thực dân Pháp nhận thấy lực lượng quân chủ lực của ta di chuyển lên phía Tây Bắc, chúng quyết định xây dựng tập đoàn cứ điểm mạnh ở Điện Biên Phủ nhằm vừa bảo vệ vùng Thượng Lào đồng thời chặn đánh, tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Xác định tầm quan trọng của Điện Biên Phủ, tướng Nava đã cho tăng cường thêm lính ở đây lên đến 16.200 tên, đưa Điện Biên Phủ trở thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương. Cả Pháp và Mỹ đều nhận định Điện Biên Phủ là “pháo đài bất khả xâm phạm”, là “một boong ke không thể công phá”, là “con nhím khổng lồ giữa núi rừng Tây Bắc”.

Trước tình hình đó, Bộ Chính trị đã quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ nhằm đập tan âm mưu xâm lược của thực dân Pháp. Đảng đã chỉ đạo cho các địa phương tập trung mọi nguồn lực cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Một mặt, bộ đội địa phương và dân quân du kích tiến hành đánh địch nhằm giam chân chúng, một mặt đẩy mạnh tăng gia sản xuất cung cấp lương thực cho chiến trường Điện Biên Phủ.

Ngày 1-1-1954, Chi bộ, Ủy ban họp kiểm điểm sản xuất, hầu hết các thôn chưa hoàn thành việc làm mương phai (chỉ có Yên Nhuận là hoàn thành), nhân dân chưa chú ý sản xuất, còn vin vào cớ này cớ nọ như đi chợ sắm đồ tết, đi dân công. Tư tưởng cán bộ chưa thông, chưa gương mẫu, không chú ý giải thích những thắc mắc của dân.

Để chi viện cho chiến dịch Điện Biên Phủ, Chi bộ đã lập một tổ ngựa thồ có 32 người với 32 con ngựa cho tỉnh để trong 2 tháng vận chuyển hết 1.000 tấn thóc từ Nà Phặc về Chợ Mới, đường dài 76km, tự túc lương thực, thực phẩm đủ ăn trong 2 tháng; Ban Chỉ huy do các ông Kỳ, Đại, Tịnh, Quân phụ trách. Đầu năm 1954, có đội thứ hai tuyển 28 người chia làm 2 tổ: Tổ 1 do chị Hoàng Thị Tạ làm Tổ trưởng, ông Hà Văn Nam làm Tổ phó; tổ 2 do chị Nông Thị Cao làm Tổ trưởng, ông Hoàng Văn Chu làm Tổ phó. Cũng trong năm 1954, đoàn dân công 57 người do ông Lưu Văn Ất - Ủy viên Ủy ban kháng chiến hành chính xã làm chỉ huy trưởng đi 4 tháng mở đường Đèo Muồng - Tuyên Quang.Đội vận tải sau khi hoàn thành cuộc vận chuyển ở Bạch Thông về ăn tết năm 1954 xong lại chuyển xuống Định Hóa - Thái Nguyên, vận chuyển hàng sang Tuyên Quang cho đến khi hết chiến dịch.

Ngày 9-2-1954 hội nghị quân dân chính xã có đủ cán bộ ủy ban, chi bộ các ban ngành. Hội nghị nghe ông Nguyễn Văn Ninh - Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính báo cáo kết quả sản xuất năm 1953, các đại biểu bàn bạc phương hướng sản xuất năm 1954.Phát động phong trào thi đua Hoàng Hanh và tổ đổi công Trịnh Xuân Bái. Phát triển lúa Nam Ninh, trồng ngô, khoai, sắn. Khai thác lâm - thổ sản: sa nhân, mộc nhĩ, nấm hương, cho vay thóc nghĩa thương làm giống hoặc đổi giống, phát triển nuôi gà, vịt và mỗi nhà đều trồng bông, khai khẩn đất hoang, bảo vệ khai thác lâm sản.

Thành lập ban chống đói gồm các ông trong Ủy ban kháng chiến hành chính xã, các ban ngành để đôn đốc, kiểm tra nhân dân sản xuất. Tổ chức mít tinh ở 2 nơi: tại Nà Liềng gồm các thôn Quảng Bình, Khau Pa, Nà Tấc, một nửa thôn Yên Nhuận. Tại Ủm Đon gồm thôn Chỉ Mỹ và một nửa thôn Yên Nhuận để phát động thi đua đợt 1 với nội dung là: làm Nam Ninh, gieo mạ, cày bừa ruộng cấy, cày ải ruộng mùa, tiếp tục đào mương phai. Gieo ngô 3 tháng và 5 tháng, trồng sắn, mía, chăm sóc trâu đặc biệt là bê nghé, làm hố ủ phân.

Sáng 11-2-1954, Ủy ban kháng chiến hành chính xã họp với đoàn cán bộ dân công của tỉnh và liên khu Việt Bắc để bố trí chỗ nghỉ cho dân công nơi khác đến. Nà Coóc - Nà Liềng sẽ bố trí chỗ nghỉ cho 100 người ở Chợ Rã. Pác Toong sẽ bố trí chỗ nghỉ cho dân công các xã Phương Viên, Đông Viên, Bằng Phúc ở. Pác Là sẽ bố trí cho dân công các xã Thành Công, Thắng Lợi, Ngọc Bằng ở. Bản Tắm sẽ bố trí cho dân công Nhu Viễn, Yên Thịnh ở.

Ngày 13-4-1954, chính quyền xã họp Ủy ban nông hội và các ngành để học tập bản báo cáo tổng kết kinh tế - tài chính của tỉnh Bắc Kạn. Tiêu chuẩn chiến sỹ thi đua, nghị quyết chống đói, học tập bản giao ước thi đua. Qua 5 ngày học tập 13-17/4/1954 đã đề ra chương trình thực hiện là: Thành lập Ban chống đói gồm 5 người do ông Nguyễn Văn Ninh làm Trưởng ban, thành lập ban kinh tế gồm 5 người. Nội dung chống đói, cứu đói là trồng khoai lang 3 tháng, trồng ngô 4 tháng, tích cực đào mương đắp phai.Ngày 21-4-1954, Ủy ban kháng chiến hành chính xã họp để kiểm điểm thực hiện nghị quyết về sản xuất, dân công, chống đói. Hội nghị đánh giá chất lượng các tổ đổi công ở các thôn: Chỉ Mỹ 7 tổ, Yên Nhuận 9 tổ, Khau pa 8 tổ, Phong Huân 3 tổ, Bằng Tấc 4 tổ, Quảng Bình 9 tổ. Toàn xã có 40 tổ đổi công, trong đó có những tổ hoạt động khá: Nà Tấc, Nà Giỏ, Phiêng Diề, Nà Coóc, Bản Pièo, Pác Cộp, Bản Lanh, Nà Lẹng. Chi bộ Đảng đã lãnh đạo thành công mọi mặt công tác, đảm bảo cho xã giữ vững vị trí của khu an toàn trong suốt thời kỳ kháng chiến, đồng thời có đủ sức cung cấp về người và của cho tiền tuyến.

Sau 56 ngày đêm, chiến dịch Điện Biên Phủ đã kết thúc với thắng lợi hoàn toàn thuộc về ta. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ mạnh nhất Đông Dương của Pháp đã bị đánh sập, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ lập lại hòa bình trên toàn cõi Đông Dương ngày 20-7-1954.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chi bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc xã Thành Công (trong đó có Bình Trung) đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ, thử thách góp phần cùng với nhân dân cả nước thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và tiến lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội đồng thời chi viện sức người sức của cho miền Nam. Miền Nam tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến tới thống nhất nước nhà. Cùng với nhân dân miền Bắc, nhân dân xã Thành Công bước vào thời kỳ mới đẩy mạnh tăng gia sản xuất đồng thời chi viện sức người, sức của cho miền Nam ruột thịt.

Trải qua 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp gian khổ, Chi bộ Thành Công đã lãnh đạo nhân dân cần cù lao động, tăng cường chi viện sức người, sức của cho cuộc kháng chiến. Xã đã huy động hàng trăm lượt người đi dân công, đi bộ đội và tham gia dân quân du kích. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, xã có 2 liệt sỹ (Nông Văn Lê và Nguyễn Văn Nam) và nhiều người khác đã để lại một phần xương máu trên chiến trường. Ghi nhận những thành tích của nhân dân các dân tộc Bình Trung (ngày nay), Chính phủ đã tặng 4 Huân chương kháng chiến hạng Nhì, 2 Huân chương kháng chiến hạng Ba, 24 Huy chương kháng chiến hạng Nhất, 17 Huy chương kháng chiến hạng Nhì và 4 Bằng của Thủ tướng Chính phủ tặng tập thể và các cá nhân có thành tích xuất sắc trong kháng chiến.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp trước hết là do có đường lối kháng chiến đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh “Toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh”. Đường lối đó đã được Chi bộ Đảng quán triệt và vận dụng linh hoạt, chủ động, sáng tạo vào hoàn cảnh của địa phương. Được sự giúp đỡ của Huyện ủy Chợ Đồn, Chi bộ Đảng Thành Công đã tăng cường đoàn kết nhân dân, chính quyền và các đoàn thể cách mạng trong Mặt trận Việt Minh để thực hiện chiến tranh nhân dân, góp phần vào thắng lợi to lớn của dân tộc. Những kết quả đã đạt được trong kháng chiến chống thực dân Pháp, là cơ sở, tiền đề, tạo động lực giúp tổ Đảng, Chi bộ và nhân dân xã Thành Công (trong đó có Bình Trung) đẩy mạnh sản xuất, gặt hái những thành công trong thời giantiếp theo.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn