Bình Trung trong cuộc vận động giải phóng dân tộc (1930-1945) (nay thuộc xã Nghĩa Tá tỉnh Thái Nguyên)
Bình Trung trong cuộc vận động giải phóng dân tộc 1930-1945 (nay thuộc xã Nghĩa Tá tỉnh Thái Nguyên)
Từ sau Hội nghị Trung ương Đảng tháng 5-1941, Việt Bắc được chọn làm căn cứ xây dựng lực lượng khởi nghĩa vũ trang. Do đó, vấn đề liên lạc giữa các địa phương trong khu cách mạng Việt Bắc với nhau và giữa Trung ương với miền xuôi càng trở nên cấp thiết. Ngay từ khi còn ở biên giới Việt - Trung, khi xem xét các điều kiện để xây dựng căn cứ địa cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra nhiều triển vọng lớn lao cho cách mạng nước ta, vì Cao Bằng có phong trào tốt từ trước lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ”[1].
Để thực hiện yêu cầu cấp bách đó, bên cạnh hình thức giao thông bí mật có từ trước, Người đã chỉ thị xây dựng những con đường quần chúng nối liền các trung tâm cách mạng với nhau. Trên tinh thần đó, theo quyết định của Ban Việt Minh liên tỉnh Cao - Bắc - Lạng, công tác Nam tiến được chuẩn bị khẩn trương. Tháng 9-1942 tại Cao Bằng, ban xung phong Nam tiến mà hạt nhân là Chi bộ Nam tiến được thành lập do đồng chí Nông Văn Quang làm Bí thư, có nhiệm vụ lãnh đạo, tổ chức phong trào nam tiến từ Nguyên Bình (Cao Bằng) xuống Bắc Kạn. Ban chỉ đạo do đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách, có các đồng chí Lê Thiết Hùng, Nông Văn Quang, Nông Văn Lạc, Dương Văn Long.
Mùa hè năm 1943, các đội xung phong Nam tiến đã đến phía Bắc tỉnh Bắc Kạn. Tháng 4-1943, bộ phận đầu tiên của đoàn quân Nam tiến bắt đầu vào Ngân Sơn và từ đây chia làm 2 mũi tiến quân theo 2 hướng chính: mũi thứ nhất do đồng chí Nông Văn Quang phụ trách xuất phát từ Bản É đi xã Thượng Ân qua Cốc Đán sang xã Hà Hiệu (châu Chợ Rã). Sau khi gây dựng xong các cơ sở từ phía Bắc Ngân Sơn đến Hà Hiệu, bộ phận này vượt qua Phia Bjoóc tiến về Nghĩa Tá (châu Chợ Đồn) tới cuối năm 1943, 19 đội đã có mặt ở Bắc Kạn.
Việc xây dựng cơ sở cách mạng ở Bắc Kạn trên con đường Nam tiến được triển khai theo phương châm linh hoạt. Thực hiện kế hoạch chung, đi đến đâu các đội xung phong Nam tiến đều ra sức vận động tổ chức quần chúng vào các đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh, đào tạo đội ngũ cán bộ để phát triển Đảng, xây dựng lực lượng tự vệ, đẩy mạnh công tác binh vận trong khi tuyên truyền tổ chức các hội cứu quốc nhằm giáo dục lòng yêu nước căm thù giặc, tuyên truyền chương trình điều lệ của Việt Minh, phát động khí thế cách mạng của quần chúng. Cùng với các cuộc mít tinh, hội họp các đội Nam tiến còn khai thác tập tục các dân tộc như trích máu ăn thề, kết nghĩa anh em… để vận động quần chúng. Do đó, trên cơ sở mối quan hệ dòng họ và bạn bè vốn rất được trân trọng trong đời sống đồng bào các dân tộc ở cơ sở và phong trào cách mạng phát triển một cách nhanh chóng, rộng lớn.
Dựa vào đường dây họ hàng của các cơ sở đồng bào Dao ở Chợ Rã, đồng chí Nông Văn Quang đã đến nhà ông Triệu Hữu Minh, chánh mán bản làng Tăng, xã Tân Lập tuyên truyền giác ngộ cách mạng. Bản làng Tăng trở thành cơ sở đầu tiên của mũi Nam tiến vào Chợ Đồn.
Mùa hè năm 1943, một số cán bộ Nam tiến đã vào phía Đông huyện Chợ Đồn xây dựng cơ sở ở Đông Viên và Rã Bản. Con đường quần chúng từ Nguyên Bình (Cao Bằng) đến Chợ Đồn được thông suốt. Những cơ sở của Mặt trận Việt Minh cùng với các đội tự vệ và tự vệ chiến đấu phát triển nhanh chóng.
Giữa lúc đó phong trào cách mạng ở các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang ngày nay rất sôi nổi nhất là từ sau khi toàn bộ lực lượng cứu quốc quân rút về nước hoạt động. Vùng địa giới giữa các huyện Đại Từ, Định Hóa (Thái Nguyên) và Yên Sơn, Sơn Dương (Tuyên Quang) thực sự trở thành một căn cứ cách mạng. Tình hình này tạo thêm điều kiện thúc đẩy phong trào cách mạng ở Chợ Đồn và tổng Nghĩa Tá.
Phối hợp hoạt động với các đội xung phong Nam tiến, lực lượng Bắc tiến mở đường lên Bắc Kạn theo 2 hướng chủ yếu: Từ Võ Nhai một tổ chức cứu quốc quân tiến lên theo đường Na Rì thì vấp phải lực lượng phản động địa phương phải quay trở lại xây dựng cơ sở ở vùng đông nam huyện Bạch Thông. Một tổ chức cứu quốc quân gồm có đồng chí Hoàng Thượng, Nhất Quý được ông giáo Chính[2] (còn có tên khác là ông Tư) đã từng dạy học ở Chợ Đồn dẫn đường từ Định Hóa (Thái Nguyên) tiến thẳng lên Chợ Đồn, xây dựng cơ sở cách mạng trong đồng bào Dao ở Bản Bẳng xã Nghĩa Tá. Tổ công tác đã giác ngộ cho ông Triệu Phú Dương - phó chánh mán và ông Triệu Du Nhuận quản chiểu - 2 người có uy tín cao của người Dao ở xã Nghĩa Tá - Chợ Đồn để xây dựng và phát triển cơ sở cách mạng.
Từ cơ sở đầu tiên ở Bản Bẳng, cơ sở cách mạng nhanh chóng lan rộng ra các chòm xóm người Dao ở Nghĩa Tá, Bình Trung. Nhiều người được tham gia vào hội bí mật như ông Bàn Văn Chăn, Bàn Văn Trai, Đằng Văn Dèn (Bản Ca), ông Đặng Văn Vý (Khuổi Châng), ông Lý Văn Thanh, ông Nần (Khuổi Loọc), ông Triệu Nghĩa Châu, ông Kim, ông Dinh (Vằng Phung, sau lên ở Bản Pièo)… có Triệu Hồng Thắng, Lê Giản tổ chức ăn thề vào tháng 3-1943.
Đến đầu tháng 9-1943, hầu hết đồng bào Dao thuộc tổng Nghĩa Tá và tổng Đông Viên đều gia nhập hội Việt Minh. Các tổ chức cứu quốc của phụ nữ, thanh niên… được xây dựng và củng cố. Khí thế cách mạng quần chúng lên cao lôi cuốn cả một số chánh mán, động trưởng, quản chiểu đi theo Việt Minh.
Tháng 10-1943, hai đoàn quân Nam tiến và Bắc tiến gặp nhau ở Bản Bẳng, xã Nghĩa Tá. Để kỷ niệm thắng lợi của 2 đoàn này về sau, xã Nghĩa Tá được đặt tên là xã Thắng Lợi, xã Phong Huân được đặt tên là xã Thành Công. Châu Chợ Đồn nói chung, tổng Nghĩa Tá và xã Bình Trung nói riêng cùng một lúc được tiếp nhận ảnh hưởng trực tiếp của các trung tâm căn cứ cách mạng Cao - Bắc - Lạng; Bắc Sơn - Võ Nhai, Đại Từ - Định Hóa, Sơn Dương. Ở nhiều nơi phong trào cách mạng ở địa phương phát triển nhanh chóng. Nhiều bài thơ ca cách mạng như “Việt Nam ngũ tự kinh” của đồng chí Võ Nguyên Giáp (được đồng chí tự dịch ra tiếng Tày “Việt Minh - kinh hả xử”, tiếng Dao “Việt Minh pha giảng sâu”) được phổ biến rộng rãi. Đồng bào, quần chúng phấn khởi tin tưởng, hăng hái đi theo cách mạng, tích cực bảo vệ cơ sở, bảo vệ cách mạng.
Trong khí thế sôi nổi ấy, vào cuối tháng 12-1943, một hội nghị đại biểu Việt Minh các xã Nghĩa Tá, Bình Trung (ngày nay), Phong Huân, Lương Yên được triệu tập tại Khuổi Kít (Nghĩa Tá)[3].
Sau cuộc họp, cán bộ Việt Minh tích cực vận động tuyên truyền, giải thích cho quần chúng hiểu rõ Mặt trận Việt Minh, tuyên truyền về quyền bình đẳng giữa các dân tộc, giữa nam và nữ. Mục tiêu tuyên truyền nhằm vào những vị chức sắc như chánh tổng, phó tổng, lý trưởng, phó lý, xã đoàn của dân tộc Tày bằng con đường anh em thân thuộc, kết bạn đồng canh, đồng niên, làm cho đội ngũ quyền cao chức trọng này tuy chưa hiểu rõ Việt Minh nhưng đã làm ngơ không truy bắt người lạ mặt ra vào trong xã.
Nhiều thanh niên hăng hái khỏe mạnh được tuyển chọn vào các đội tự vệ. Người dân tự mua sắm vũ khí như súng kíp, giáo mác trang bị cho đội tự vệ. Những cán bộ nòng cốt của các xã được cử đi học lớp tập huấn chính trị, quân sự ở Bó Lọn (Nà Đang, xã Lương Bằng). Sau 7 ngày huấn luyện học viên trở về xã mở lớp ngay tại địa phương mình tuyên truyền chính trị, tổ chức vận động quần chúng và các khoa mục quân sự cần thiết như: kỹ thuật ném lựu đạn, chiến thuật đánh du kích, các hình thức chống địch khủng bố…
Giữa lúc phong trào cách mạng ở Chợ Đồn và toàn tỉnh Bắc Kạn đang dâng cao thì cơ sở ở bắc Chợ Rã bị lộ. Ngày 22-11-1943, địch đưa quân khủng bố phong trào ở xã Cao Minh (Chợ Rã) mở đầu cho cuộc khủng bố ác liệt của chúng trên phạm vi toàn tỉnh, ở châu Chợ Đồn có đồn Bản Thi, Chợ Đồn, Yên Thịnh. Ở xã Bình Trung, chúng chuyển đồn Bang Tá từ Bản Điếng lên Tông Quận, biến đồn Bản Điếng (Tông Quận) thành đồn binh để dễ bề kiểm soát ngã ba đường đi 3 tỉnh: Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang. Ở xã chúng đặt thêm chức khán hộ, khán xã, mỗi nhà cử ra một người để đi tuần kiểm soát người đi lại trong làng bản và các ngả đường. Chúng lập hệ thống tuần đinh, tuần tráng đặt dưới quyền chỉ huy của châu đoàn, tổng đoàn, xã đoàn. Chúng còn treo giải thưởng bằng muối, tiền bạc, chức vụ…. cho những ai bắt được cán bộ cách mạng.
Thâm độc hơn thực dân Pháp thi hành chính sách dồn làng tập trung theo kiểu “tát nước bắt cá” ở Nà Phầy, Bản Điếng vào Nà Kiện, Nà Khoang, Khuổi Pạu. Các làng bản hàng ngày có bọn lĩnh dõng dưới sự chỉ huy của xã đoàn đến điều tra nghiêm ngặt. Ở Nghĩa Tá, Lương Yên chúng dẫn bọn dõng đến đốt nhà 2 gia đình để uy hiếp tinh thần nhân dân. Tại Yên Thịnh chúng điều 1 tên sỹ quan Pháp đến chỉ huy, chúng lập đồn binh ở Bản Điếng, giao quyền hành lớn cho 1 tên quan khét tiếng tàn ác lên nắm giữ.
Bất chấp sự khủng bố của kẻ thù, quần chúng giác ngộ hết lòng bảo vệ che chở cho cán bộ, khẩu hiệu “bốn không” (không biết, không nghe, không thấy, không đầu hàng) được thực hiện triệt để. Nhờ sự chỉ đạo chặt chẽ của liên tỉnh Đảng bộ, nhất là sự sâu sát của cán bộ cơ sở và tinh thần kiên cường của quần chúng cho nên dù địch đánh phá ác liệt những cơ sở cách mạng vẫn được giữ vững.
Tháng 8-1944, Hội nghị đại biểu Việt Minh toàn châu Chợ Đồn được tổ chức ở Bản Bẳng, xã Nghĩa Tá. Hội nghị đã quyết định: Thành lập một trung đội tự vệ chiến đấu toàn châu, tự trang bị lấy vũ khí và lương thực; lập một kho lương thực và tổ chức quyên góp lấy tiền làm quỹ du kích; vận động nhân dân các xã làm kho thóc bí mật, có phương án bảo vệ nhân dân và chống khủng bố đạt hiệu quả cao nhất. Thực hiện Nghị quyết trên, dưới sự chỉ đạo của các cơ sở khắp các bản làng trong toàn châu đều thành lập các kho thóc bí mật, thi đua quyên góp tiền ủng hộ Việt Minh.
Tháng 10-1944, tại Bó Lọn (Lương Bằng) trung đội tự vệ chiến đấu đầu tiên của châu được thành lập. Sự kiện này đánh dấu bước phát triển mới trong quá trình xây dựng lực lượng cách mạng. Các đội viên tự sắm vũ khí (súng kíp, giáo mác) và được huấn luyện bước đầu trong 20 ngày.
Cuối năm 1944, thực dân Pháp và tay sai phát hiện ra có tổ chức Việt Minh cộng sản ở Bản Bẳng, Bó Lọn, Thôm Phả[4] nên chúng quyết tâm mở cuộc càn quét vào khu vực này nhằm tiêu diệt cộng sản, Việt Minh. Lực lượng của địch được chia thành 3 mũi tiến công: mũi thứ nhất từ đồn Yên Thịnh đánh xuống Nghĩa Tá, Lương Bằng do tên sỹ quan Pháp Đờ-Phông-Tích (Dephontie) chỉ huy. Mũi thứ hai từ Bắc Kạn vào theo đường Đại Sảo xuống Tông Quận do tên quan Cẩm chỉ huy. Mũi thứ ba từ Định Hóa lên do Hà Sỹ Tinh - tri châu Định Hóa chỉ huy.
Biết được âm mưu của địch, ta quyết định chặn đánh mũi tiến công thứ nhất của tên Đờ-Phông-Tích. Lực lượng du kích được bố trí mai phục ở Nà Vang (Bản Thít, xã Lương Bằng). Ngay khi địch lọt vào trận địa phục kích, trong loạt đạn đầu tiên quân ta đã hạ thủ tên Đờ-Phông-Tích[5],hắn bị trúng đạn vào vai, bọn lính khố xanh bỏ chạy tán loạn về đồn Yên Thịnh.Đây là trận đánh đầu tiên của đội du kích giành thắng lợi, lực lượng ta được bảo toàn, uy tín của Việt Minh được nâng lên, nhân dân càng tin tưởng và hăng hái tham gia bảo vệ Việt Minh. Cánh quân thứ hai do tên quan Cẩm dẫn quân vào đến Phong Huân để lùng sục vào Thôm Phả, hắn ngủ lại ở Pác Cộp 1 đêm. Hôm sau hắn cùng đồng bọn kéo ra Tông Quận hy vọng gặp cánh quân Yên Thịnh nhưng khi đến nơi thấy bọn lính dõng lo sợ buộc hắn phải ngủ lại 2 tối, sau đó bắt 2 người dân làm phu gánh vác đồ đạc của hắn ra Bắc Kạn. Cánh quân thứ 3 do ông Hà Sĩ Tinh do đã được cách mạng giác ngộ nên chỉ đưa vợ con lên ẩn náu ở Bản Điếng. Ba mũi tiến quân của Pháp đều bị bẻ gãy. Thắng lợi này gây được thanh thế cho Việt Minh, động viên cổ vũ đồng bào trong xã và tổng Nghĩa Tá tiến lên khởi nghĩa.
Bước vào năm 1945, giữa lúc phong trào cách mạng của nhân dân ta dâng lên mạnh mẽ thì chiến tranh thế giới thứ 2 chuyển biến có nhiều thuận lợi cho phe dân chủ. Đêm ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp độc chiếm Đông Dương. Ngày 12-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp và ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, xác định rõ kẻ thù trước mắt của nhân dân ta lúc này là phát xít Nhật, đấu tranh theo khẩu hiệu “đả đảo phát xít Nhật”, tiến tới thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân Đông Dương, phát động cao trào kháng Nhật cứu nước, làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa khi thời cơ tới.
Mặc dù chưa liên lạc được với Trung ương nhưng nhận rõ thời cơ, thuận lợi, Ban Thường vụ liên Tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng đã họp và ra Nghị quyết: Đánh đổ chế độ thống trị của Pháp ở hương thôn từng nơi, rồi sẽ thành lập chính quyền nhân dân từ cấp xã đến cấp châu, phủ đến cấp tỉnh. Điều động cán bộ của đội tuyên truyền về cùng các đội vũ trang địa phương tổ chức thêm những đơn vị giải phóng quân mới, chuẩn bị trực tiếp đánh Nhật. Phá hoại đường sá, cầu cống, vận động dân chúng tích cực làm “vườn không nhà trống” khắp nơi. Đối với quân Pháp bị Nhật đánh đuổi, Tỉnh ủy có chủ trương không khiêu chiến với họ trong lúc họ rút lui mà tích cực kêu gọi họ cùng nhau thành lập Mặt trận chống Nhật.
Ở Chợ Đồn, những thắng lợi dồn dập to lớn của Ngân Sơn, Chợ Rã ở phía Bắc; Định Hóa, Sơn Dương ở phía Nam đã tác động mạnh mẽ đến nhân dân các dân tộc tổng Nghĩa Tá. Những quan chức dân sự và bọn tay sai của Pháp hoang mang lo sợ, một bộ phận bỏ chạy. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Bắc Kạn ngày 28-3-1945 (15-2 Ất Dậu) tại Bản Bẳng (xã Nghĩa Tá) hội nghị cán bộ, đảng viên hoạt động ở Chợ Đồn và Ủy ban Việt Minh châu đã quyết định khởi nghĩa. Hội nghị quyết định thành lập thêm 2 trung đội tự vệ trong đó có một trung đội tự vệ chiến đấu gồm 26 chiến sỹ (có 3 cán bộ người Tày, còn lại đều là người Dao) được trang bị vũ khí tốt để tiêu diệt các đồn bốt, xóa bỏ lực lượng quân sự của địch. Trung đội tự vệ làm nhiệm vụ võ trang tuyên truyền, tước vũ khí của lính dõng, thu bằng triện xóa bỏ chính quyền của địch.
Thực hiện Nghị quyết trên, đêm 28-3-1945, trung đội tự vệ chiến đấu dưới sự chỉ huy của Trung đội trưởng Vũ Yến tiến đánh đồn Tông Quận. Trong đồn có 1 tiểu đội khố xanh, một số lính dõng do 1 tên bang tá cầm đầu. Hoảng sợ trước khí thế của quân cách mạng, tên bang tá Trịnh Như Phứ cùng vợ con chạy vào ẩn náu ở Pác Cộp bị quân dân ở đây bắt ra đầu hàng cách mạng. Bọn lính bỏ đồn từ chiều hôm trước. Lực lượng tự vệ của ta chiếm đồn nhanh gọn không tốn xương máu. Phối hợp với bộ phận đánh đồn Tông Quận, một bộ phận lực lượng tự vệ chiến đấu tiến về khu Mỏ Kẽm chợ Điền (Bản Thi). Sáng ngày 24-3-1945, ta đã hoàn toàn làm chủ khu Mỏ. Trung đội tự vệ nhanh chóng phát động quần chúng các xã Nghĩa Tá, Lương Yên, Phong Huân, Yên Nhuận, Bằng Lãng, Ngọc Phái xóa bỏ bộ máy tay sai của địch và tuyên bố thành lập chính quyền cách mạng.
Ngày 29-3-1945 (ngày 16-2 năm Ất Dậu), bộ đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân do đồng chí Hoàng Văn Thái chỉ huy từ phía Bắc xuống gặp đội tự vệ châu Chợ Đồn ở Phương Viên. Hai bên thống nhất kế hoạch tấn công giải phóng châu lỵ. Khi vào đến nơi quân ta chạm trán với một trung đội lính khố xanh vừa ở Chợ Rã chạy về. Với ưu thế của lực lượng cách mạng, quân ta tiến hành công tác binh vận, làm tan rã đội ngũ binh lính địch, buộc chúng phải đầu hàng cách mạng. Toàn châu lỵ Chợ Đồn được giải phóng, ngay sau đó quân ta đã phá kho thóc chia cho dân nghèo.
Đầu tháng 4-1945, một cuộc mít tinh được tổ chức ở thoi Cốc Kè (cuối Vằng Đẻ) với sự tham dự của nhân dân Bản Điếng và Nà Phầy. Tại buổi mít tinh, đồng chí Vũ Yến, Lãnh Long Tùng (Minh héo) và Nông Văn Quang đã nói về điều lệ của Mặt trận Việt Minh, đường lối cách mạng cứu nước, cứu dân, đánh đuổi quân Nhật - Pháp, kêu gọi mọi người ủng hộ Việt Minh để giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức bóc lột của thực dân và bọn tay sai. Tiếp đó, ngày 15-4-1945, một cuộc mít tinh được tổ chức ở đồn Tông Quận thu và đốt hết bằng sắc của chánh tổng, phó tổng, lý trưởng, phó lý, kỳ mục, xã đoàn, tuyên bố xóa bỏ chế độ cũ, thiết lập chế độ mới, thành lập Ủy ban Việt Minh tổng Nghĩa Tá do bà Đàm Thị Loan phụ trách, ông Ma Doãn Nhàn làm Thường trực.
Sau ngày giành chính quyền, tổng Nghĩa Tá được chia thành 4 khu: khu Hưng Đạo (xã Nghĩa Tá ngày nay), khu Bạch Đằng (xã Lương Bằng ngày nay), khu Quang Toản (xã Phong Huân, Bình Trung ngày nay), khu Bình Trọng (xã Yên Nhuận, Yên Mỹ ngày nay). Ông Nông Văn Như được cử làm Chủ tịch Ủy ban lâm thời khu Quang Toản[6], ông Trương Văn Bổn là Chủ tịch Việt Minh khu Quang Toản.
Đây là sự kiện lịch sử lớn trong đời sống chính trị của nhân dân các dân tộc khu Quang Toản (trong đó có nhân dân Bình Trung), góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng châu Chợ Đồn phát triển mạnh mẽ và vững chắc. Đó là một đòn đánh mạnh vào chính sách chia rẽ dân tộc của thực dân xâm lược và bè lũ tay sai, là thắng lợi to lớn của đường lối cách mạng, chính sách dân tộc của Đảng, của Việt Minh. Lý tưởng của Đảng là sức mạnh to lớn làm dấy lên một phong trào cách mạng sôi nổi quật ngã kẻ thù. Trong các thôn xóm của khu Quang Toản đã có 7 thanh niên khỏe mạnh[7]xung phong gia nhập vào đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân lên đường đánh giặc cứu nước.
Như vậy kể từ lúc cơ sở cách mạng đầu tiên được thành lập (12-1943) đến khi giành được chính quyền (28-3-1945), nhân dân các dân tộc ở Chợ Đồn (trong đó có Bình Trung) mới trải qua thời gian 15 tháng. Thời gian ngắn ngủi ấy đã chứng kiến những bước trưởng thành hết sức nhanh chóng của phong trào cách mạng ở xã. Trong quá trình đó đồng bào các dân tộc Bình Trung đã vượt qua mọi khó khăn nguy hiểm, bất chấp sự khủng bố của kẻ thù, hết lòng bảo vệ cán bộ, bảo vệ cơ sở cách mạng.
Sau khi chiếm được thị xã Bắc Kạn (17-3-1945), phát xít Nhật một mặt thi hành chính sách lừa bịp, mị dân, mặt khác ráo riết hoạt động để mở rộng phạm vi chiếm đóng nhằm xóa bỏ vùng giải phóng của ta. Cuối tháng 4-1945, phát xít Nhật mở cuộc hành quân càn vào khu vực châu Chợ Đồn. Đi tới đâu chúng cũng bắn giết trâu bò, đốt phá nhà cửa của nhân dân ta. Do nhân dân ta làm “vườn không nhà trống” một cách triệt để, quân Nhật một phần hoang mang lo sợ vào chỗ không người, một phần gặp khó khăn về tiếp tế lương thực, thực phẩm cho nên sau vài ngày hành quân mệt mỏi, chúng phải rút về Bắc Kạn. Đồng bào Bình Trung từ các nơi sơ tán đã quay trở về làng bản cũ để làm ăn, lực lượng vũ trang trong xã đã nêu cao tinh thần cảnh giác, lập phương án chiến đấu cụ thể. Đội tự vệ thay nhau canh gác suốt ngày đêm, cử người đi tham gia phá hoại con đường từ Chợ Đồn ra Bắc Kạn, phá cầu, ngả cây to xuống mặt đường để làm chướng ngại vật.
Trung đội tự vệ chiến đấu và đội tự vệ thường của xã (khu) được thành lập từ tháng 3-1945 luôn làm nhiệm vụ thường trực. Cán bộ và chiến sĩ được dự các lớp huấn luyện chính trị quân sự của châu, mở lớp tháng 6-1945, tại Nà Duồng (Bằng Lãng), sau 15 ngày đã đào tạo được những cán bộ cơ sở xã có năng lực tổ chức và lãnh đạo, làm công tác chính quyền. Cán bộ xã không những được trang bị hiểu biết về chính trị, nhiệm vụ chức năng quyền hạn công tác mà còn được bồi dưỡng về phương pháp tổ chức và vận động quần chúng.
Hai tháng sau khi Nhật chiếm đóng Bắc Kạn, hai tên Việt gian được Nhật cho về Chợ Đồn lập chính quyền tay sai nhưng đến nơi liền bị ta bắt giữ giao cho châu Việt Minh xử lý. Nhật thất bại nặng nề trong cuộc vây càn vào căn cứ cách mạng thuộc khu vực biên giới 3 tỉnh: Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang với 2.000 quân, có bọn Việt gian thông thạo địa bàn dẫn đường. Tại Bản Pè (xã Dương Phong) ta tiêu diệt hơn 2 tiểu đội địch, làm bị thương nhiều tên khác, thu được súng đạn, buộc Nhật phải từ bỏ tham vọng chiếm vùng giải phóng ở phía Tây của tỉnh. Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc. Sau thắng lợi có tính quyết định của Hồng quân Liên Xô đánh tan đội quân Quan Đông, chính phủ Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh vô điều kiện. Quân đội Nhật ở Đông Dương và bè lũ tay sai hoang mang dao động đến cực điểm.
Chớp thời cơ thuận lợi đó, Đảng Cộng sản Đông Dương triệu tập hội nghị toàn quốc (từ 13 đến 15-8-1945) tại Tân Trào (Sơn Dương - Tuyên Quang), quyết định tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Đêm 13-8-1945, bản Quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi nghĩa được phát đi trong cả nước. Ngày 16-8-1945, quốc dân Đại hội họp tại đình Tân Lập (Tân Trào- Tuyên Quang). Đại hội tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi cả nước của Đảng và 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh. Đại hội quyết định thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam tức là Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Trong tháng 8-1945, nhân dân cả nước nổi dậy giành chính quyền thành công. Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình - Hà Nội, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sau 15 năm vận động và đấu tranh giải phóng dân tộc, cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám trên cả nước nói chung và Bình Trung nói riêng đã thành công hoàn toàn. Từ đây nước Việt Nam có tên trên nghị trường quốc tế và cũng là nước đầu tiên ở Đông Nam Á giành được độc lập. Thắng lợi đó có sự đóng góp của nhân dân các dân tộc tổng Nghĩa Tá (trong đó có khu Quang Toản - Bình Trung). Cách mạng đã giúp nhân dân khu Quang Toản đứng lên làm chủ vận mệnh của mình, làm chủ quê hương và cùng với các xã lân cận trong vùng xây dựng quê hương, góp phần vào sự nghiệp chung của dân tộc, chuẩn bị tham gia vào kháng chiến chống Pháp (1945-1954) với niềm tin tất thắng.
[1]. Võ Nguyên Giáp. Những chặng đường lịch sử, Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội. 1994, tr33. [2]. Theo tư liệu sưu tầm được: Ông giáo Chính người huyện Định Hóa (Thái Nguyên) đã lên huyện Chợ Đồn từ tháng 4-1942. Thời gian đầu, ông lên với danh nghĩa tìm vỏ trầm, vỏ sen, sau mua lợn con gánh đi bán ở Chợ Chu (Định Hóa). Sau một thời gian ông chuyển sang dạy chữ quốc ngữ tại nhà ông Lý Văn Thanh ở Nà Hán, bản Pác Tra thuộc thôn Tân Trung (xã Nghĩa Tá hồi đó), giáp Bản Bẳng, học trò gồm 4 người: Lý Văn Thanh (Lý Nho Thanh), Chu Phú Hiệp, Triều Phú Dương, Triệu Du Nhuận. [3]. Có ý kiến gọi là Khuổi Khít. [4]. Có ý kiến gọi là Thôm Phảng. [5]. Sau ngày giải phóng Chợ Đồn, ta bắt hắn làm tù binh đem về giam tại Khuổi Ít (Bản Nhi) xã Bằng Lãng rồi chuyển về giao nộp cho tổng bộ Việt Minh. [6]. Từ ngày 14/4/1945-15/5/1945. [7]. Trịnh Văn Vượng, Nguyễn Văn Long, Hoàng Văn Đeng, Nông Văn Như (Khuổi Huân), Ma Doãn Phụng, Nông Văn Lê, Trương Văn Vấn (ở Tông Quận và Bản Điếng).


