“BỮA CƠM GIỮA RỪNG TRƯỜNG SƠN”
“BỮA CƠM GIỮA RỪNG TRƯỜNG SƠN”
(Ký ức của bác Nguyễn Văn Bình, sinh năm 1950, quê tại tổ dân phố số 3, phường Tân Hưng thành phố Hải Phòng - nguyên Chiến sĩ Đại đội 9, Trung đoàn 27, chiến đấu tại chiến trường miền Nam, 1972 - 1975)
Trường Sơn năm 1973. Mưa rừng xối xả suốt ngày đêm, những tán cây khổng lồ rủ xuống như tấm màn ướt sũng. Đất đỏ quánh dính vào chân, bùn lầy trơn trượt, có những đoạn dốc mà người đi trước phải kéo tay người đi sau, vừa đi vừa hát át tiếng bom cho quên mệt. Đơn vị của bác Bình hành quân liên tục mười mấy ngày, áo quần ướt đẫm, người nào người nấy gầy rộc. Gạo dự trữ đã hết, muối chỉ còn vài hạt trong đáy túi ni-lông. Mỗi ngày, anh em sống bằng vài củ sắn khô chia nhau, nhai kỹ mới nuốt nổi. Đêm đến, nằm trong lán phủ ni-lông, muỗi vo ve như tiếng đàn, còn vắt thì len lỏi khắp nơi - trong ống tay, cổ áo, thậm chí trong cả giày.
Thế mà ai cũng lạc quan. “Còn sống là còn hành quân,” bác Bình kể lại, “chúng tôi tin chắc rồi sẽ đến ngày toàn thắng.”
Chiều hôm ấy, khi tiếng bom B52 vừa ngớt, đơn vị được lệnh dừng lại bên một khe suối nhỏ để củng cố lực lượng. Trời vẫn mưa rả rích, rừng im phăng phắc chỉ còn tiếng suối róc rách và tiếng thở mệt nhọc của người lính. Bác Bình cùng mấy đồng đội cầm dao men theo con suối tìm rau rừng, bắt cá. Họ vui mừng khi vớt được nắm rau tàu bay, ít măng rừng và mấy con cá nhỏ bằng hai ngón tay. Giữa chiến trường ác liệt, những thứ ấy quý như vàng.
Nồi gang méo mó được đặt lên bếp đất, củi ướt cháy khói mù, khét lẹt mà thơm lạ lùng. Cả trung đội quây quần quanh nồi, ai nấy nhìn làn khói nghi ngút mà trong lòng ấm lại. Bữa cơm ấy - với vài nắm gạo, chút rau rừng, cá suối - là “bữa tiệc Tết” giữa đại ngàn. Khi cơm vừa sôi, mùi khói còn chưa kịp lan xa thì còi báo động bất ngờ rít lên xé toạc không gian. Mọi người vội vã tản xuống hầm, chỉ riêng Bình - như có linh cảm - ngoái đầu nhìn lại. Trong giây phút ấy, bác không nghĩ gì nhiều, chỉ thấy nồi cơm - nồi cơm duy nhất sau ba ngày đói – nếu bị pháo đánh trúng, anh em lại phải nhịn. Thế là Bình lao ra giữa tiếng bom, ôm chặt nồi cơm nóng bỏng, chạy dọc theo hào đất. Một mảnh pháo sượt qua vai, máu thấm ướt tay áo, nhưng nồi cơm vẫn nguyên.
Khi tiếng bom ngớt, anh em trở lên. Nồi cơm đã vỡ nát, khói quyện lẫn mùi thuốc súng, mùi đất và cả mùi máu. Họ chia nhau từng muôi cơm nhỏ, trộn với nước suối, với nước mắt. Không ai nói một lời. Chỉ có tiếng muôi chạm vào nồi, tiếng gió thổi qua tán cây, và những ánh mắt lặng im mà chan chứa tình đồng đội.
“Cơm hôm ấy chan cả máu và mồ hôi, nhưng ngon nhất đời,” bác Bình kể, giọng nghèn nghẹn. “Giữa rừng già Trường Sơn, chúng tôi hiểu rằng niềm tin mới là thứ nuôi sống con người. Tin vào Tổ quốc, tin vào ngày chiến thắng, tin vào nhau.”
Sau này, khi đất nước hòa bình, đồng đội gặp lại vẫn nhắc chuyện “bữa cơm giữa rừng” - một bữa cơm giản dị mà thiêng liêng, như một biểu tượng của tình đồng chí, đồng đội; của sức mạnh tinh thần và lòng kiên trung son sắt. “Ngày ấy, chúng tôi không có gì ngoài niềm tin - và chính niềm tin ấy đã nuôi chúng tôi mạnh hơn mọi bữa cơm no đủ.” Bác Nguyễn Văn Bình - người lính Trường Sơn năm xưa – giờ đã ở tuổi 75, mái tóc bạc trắng, nhưng trong đôi mắt vẫn ánh lên niềm tự hào của một thế hệ đã “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Mỗi khi kể lại câu chuyện ấy cho lớp trẻ, giọng bác lại chậm rãi, ấm áp: “Nếu có ai hỏi điều gì làm nên sức mạnh của người lính Trường Sơn, thì đó không chỉ là súng đạn, mà là tình đồng đội, là lòng yêu nước, là niềm tin không bao giờ tắt.”



