BỨC RÚT GÒ CỚ - MỘT MÔ HÌNH VỀ KẾT HỢP “3 MŨI GIÁP CÔNG”
Đoạn văn kể về việc quân và dân Bình Định sử dụng chiến lược “ba mũi giáp công” (quân sự, chính trị, binh vận) để phá chốt địch Gò Cớ năm 1971. Hàng nghìn quần chúng bao vây, đấu tranh kết hợp với lực lượng vũ trang uy hiếp, buộc đồn trưởng và binh lính địch phải rút lui. Thành công này trở thành kinh nghiệm để bức rút nhiều đồn bốt khác, giải phóng nhiều vùng và dân cư khỏi sự kìm kẹp của địch.
Hai năm 1969-1970, trong chiến dịch “Diệt kẹp, giành dân, giành quyền làm chủ”, Sư đoàn 3 đã hỗ trợ nhân dân nổi dậy đấu tranh, bức rút hàng trăm đồn bốt địch. Nhưng hệ thống chốt điểm của chúng vẫn còn nhiều. Dùng biện pháp quân sự đơn thuần bằng chiến thuật đặc công, ta đã và vẫn làm, nhưng đánh xong, rút lui thì đâu vẫn vào đấy. Đã đến lúc phải dùng 3 mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận) thì mới giải quyết được cơ bản việc phá ấp, giành dân.
Đầu năm 1971, tôi trình bày ý nghĩ của mình với Thường vụ Tỉnh ủy của Bình Định. Thật may là ý nghĩ của tôi trùng hợp với suy tính của các anh trong Thường vụ Tỉnh ủy. Chúng tôi bàn bạc và quyết định lấy chốt điểm Gò Cớ làm thí điểm, sau đó nhân rộng ra. Gò Cớ là một điểm chốt kiên cố nằm giữa 5 lớp rào kẽm gai và hệ thống hầm hào liên hoàn do một Đại đội bảo an đóng giữ. Nó được coi là “Lá bùa hộ mệnh” để bọn địch kìm kẹp, khống chế nhân dân dọc ven biển Phú Thứ, Hà Ra, Phú Hòa đến Châu Trúc, Vạn An (huyện Phú Mỹ, tỉnh Bình Định).
Nhá nhem tối một ngày đầu tháng 2 năm 1971, tôi và anh Đinh Bá Lộc, chính trị viên Tỉnh đội Bình Định vượt đường số 1 xuống khu căn cứ của ta ở núi Chóp Chài, gặp huyện ủy và huyện đội Phú Mỹ để bàn kế hoạch tổ chức thực hiện. Về chủ trương thì ai cũng thông suốt nhưng vẫn còn một vài ý kiến thấy địch còn mạnh, quần chúng chưa có kinh nghiệm trong đấu tranh bức rút đồn địch và mũi quân sự của huyện chưa đủ mạnh. Tôi trình bày hết suy nghĩ của mình về những thuận lợi mà ta có. Đó là quần chúng huyện Phú Mỹ, cán bộ cơ sở xã thôn dày dạn và sáng tạo. Tôi khẳng định rõ Sư đoàn 3 vừa qua tồn tại và hoạt động được chủ yếu là nhờ nhân dân Phú Mỹ nuôi, che chở và hậu thuẫn. Điểm Gò Cớ là một căn cứ mạnh của địch nhưng nó nằm sâu trong vùng ta. “Nhổ” được Gò Cớ không chỉ xóa một điểm kẹp dân lớn mà còn làm suy sụp lòng tin của địch vào chiến lược “bình định nông thôn”. Sư đoàn sẽ dùng đại đội đặc công của trung đoàn 2 hỗ trợ. Tỉnh cũng đưa 1 đại đội đặc công đến chi viện.
Vậy là trên dưới thống nhất tin tưởng. Ngày 20-2-1971 mở đầu đợt đấu tranh, ta đưa 300 quần chúng 2 thôn Phú Thứ, Phú Hòa đấu tranh, bao vây đòi địch rút quân. Địch trong đồn bắn ra uy hiếp, quần chúng có nòng cốt dẫn dắt nên vẫn bình tĩnh, không ai bỏ chạy. Theo hướng dẫn của cán bộ cốt cán, 10 người là gia đình binh sỹ ngụy mang thư của chính quyền Cách mạng, truyền đơn và tin chiến thắng đưa cho binh lính địch. Địch nhận thư, bà con đe dọa nếu không rút quân thì sẽ không cho xuống gò lấy nước. Ngày 23-2, số người đấu tranh lên tới 1000, có cả người già, trẻ em, gia đình binh sỹ ngụy đi đông hơn, từng tốp, có cán bộ binh vận, cán bộ phụ nữ, cán bộ chính trị đi kèm. Đoàn người hình thành thế vây 4 phía Gò Cớ. Sau đó, phát loa, giải thích chính sách của Mặt trận đối với binh sỹ và sỹ quan tình nguyện trở về với dân.
Địch phản ứng dữ dội bằng cách bắn các cỡ súng về phía loa. Ta cũng uy hiếp lại bằng mấy quả đạn B40, B41 (quân ngụy vốn rất sợ B40 của ta). Ngày 24-3, huyện Phú Mỹ điều động quần chúng lên tới 1500 người, vòng vây ép chặt hơn vào tận chân gò, gần cổng đồn. Địch tuyên bố: Nếu bà con không lui về thì chúng sẽ nổ súng vào thôn. Sau đó chúng bắn cối vào thôn, làm chết một đồng bào ta. Lập tức, súng cối 60, cối 82 và B41 của ta bắn gần chục quả vào đồn địch. Bọn lính hoảng sợ chui vào công sự. Chị Lang, vợ đồng chí Đinh Râu, tự đốt nhà mình. Nhà sát đồn, đồng bào lấy cớ kéo lên chữa cháy và xáp vào đồn địch đấu tranh lên án binh lính quốc gia giết dân lành và bắn cháy nhà dân. Hàng ngàn đồng bào thôn 11, xã Mỹ Thắng ở gần đó, được chuẩn bị trước, đã vượt bãi cát kéo sang hỗ trợ đấu tranh. Thấy quần chúng quá đông, bọn địch hứa sẽ không bắn vào dân nữa. Ta siết chặt vòng vây, không cho chúng đi lấy nước, không cho đi mua thực phẩm.
Chúng tôi họp nhận định: địch đã núng thế, ta phải đẩy mạnh tiến công chính trị, tổ chức khênh người chết vào cổng đồn đòi đền mạng. Địch hứa sẽ báo cáo với cấp trên và yêu cầu đồng bào lùi ra. Được thể, ta càng bao vây sát hơn, đưa lực lượng du kích, bộ đội huyện lên phía trước để hỗ trợ cho đồng bào yên tâm. Địch im lặng. Ta trương khẩu hiệu đòi chúng rút khỏi Gò Cớ, không muốn đổ máu, trả đất cho dân. Chúng tôi thảo bức thư lấy danh nghĩa Bí thư huyện ủy Phù Mỹ gửi tên Xuân, trung úy, đồn trưởng Gò Cớ. Nội dung đại ý: Thuận theo yêu cầu của nhân dân thì sẽ rút lui an toàn. Nếu ngoan cố sẽ bị trừng trị. Phần kết có đoạn: “Ông là người chỉ huy cao nhất đồn này, phải có trách nhiệm với tính mạng của binh sỹ và chính bản thân ông. Phải thức thời, không nên chết vô nghĩa, khổ vợ con, người đời nguyền rủa. Nhận thư, mời ông ra gặp đại diện Mặt trận giải phóng huyện Phù Mỹ. Khi đi không mang theo vũ khí. Quân giải phóng sẽ bảo đảm an toàn tính mạng cho ông.”
Tối hậu thư vừa gửi trực tiếp vừa được phát lên loa để tranh thủ binh sỹ. Ngày thứ 7, tên Xuân cử một chuẩn úy và một trung sỹ xuống gặp ta. Ta không đồng ý và yêu cầu chỉ gặp trung úy Xuân. Tên Xuân phải chấp nhận và mang theo 7 tên lính có vũ khí đi kèm. Đồng bào đấu tranh phản đối tên Xuân không làm đúng yêu cầu tối hậu thư. Xuân buộc phải đi một mình, không có lính đi kèm. Cuộc nói chuyện bắt đầu. Phía ta, đồng chí Trần Thị Nhung, phó ban Binh vận huyện Phũ Mỹ, đồng chí Đinh Râu, Đảng ủy viên xã Mỹ Đức và một đại diện của nhân dân. Mở đầu, cô Nhung thông báo tin chiến thắng trong Quân khu và vùng đông tỉnh Bình Định, phong trào nổi dậy của các xã trong huyện Phú Mỹ. Sau đó nói rõ rằng: Mặt trận giải phóng và bà con không muốn đổ máu thêm nữa... Tên Xuân mặt cúi gầm, đắn đo, căng thẳng, lúc đầu còn viện cớ trì hoãn nhưng bị cô Nhung bắt thóp dồn tiếp mấy câu: “Không còn cơ hội nữa đâu. Không nên trông chờ quân viện. Quận Phù Mỹ cũng đang bị uy hiếp, chỉ có mình cứu lấy mình thôi.” Cuối cùng tên Xuân nhận lời rút khỏi Gò Cớ, trả đất cho dân.
Mấy ngày sau, một cuộc hội nghị “đầu bờ” được chúng tôi gấp rút tổ chức cho cán bộ các cấp trong tỉnh Bình Định. Tất nhiên có tham dự của cán bộ Sư đoàn 3. Vấn đề rút ra đã được hội nghị đúc kết là:
- Ba mũi giáp công là phải giáp công trong hành động cụ thể ở cơ sở, ở các chốt điểm địch, nơi trận tiến công xảy ra chứ không phải giáp công trên giấy, càng không phải chỉ giáp công ở 3 người đứng đầu của 3 mũi tiến công.
- Lực lượng giáp công ở mỗi mục tiêu phải được chuẩn bị chu đáo, trên cơ sở dự kiến các tình huống có thể xảy ra. Phải kiên định quyết tâm và ý chí khi có tình huống khó khăn và chuẩn bị sẵn lực lượng để giải quyết tình huống đó.
Trong lực lượng phải tổ chức từng đội hình chặt chẽ, gồm: đội hình trực tiếp đấu tranh, đội hình bao vây uy hiếp, hỗ trợ, đội hình dự bị và lực lượng phục vụ bảo đảm phía sau. Đội hình trực tiếp phải trang bị lý lẽ. Đội hình bao vây trang bị gậy gộc, dao, cuốc và có bộ phận được trang bị vũ khí.
- Về chỉ huy phải tổ chức Ban Chỉ huy hỗn hợp gồm cán bộ phụ trách đấu tranh chính trị, cán bộ phụ trách công tác binh vận và cán bộ đại diện các lực lượng vũ trang (dân quân du kích, bộ đội huyện, tỉnh và bộ đội chủ lực, nếu cần).
Từ bài học đó mà trong Xuân Hè 1971, ở huyện Phù Mỹ chúng ta đã bức hàng, bức rút 56 chốt điểm của địch, giải phóng gần hai vạn đồng bào thoát khỏi ách kìm kẹp của địch, trở về làng cũ làm ăn.
Những kinh nghiệm đó còn được phát huy cao độ trong chiến dịch Xuân, năm 1972, quân dân tỉnh Bình Định, có Sư đoàn 3 làm nòng cốt đã tiến công và nổi dậy, tiêu diệt 80% chốt điểm địch (quân chủ lực chỉ diệt 20%), nêu ngọn cờ đầu của Khu V và toàn miền Nam về tiến công và nổi dậy, bằng kết hợp 3 mũi giáp công, giải phóng hoàn toàn Bắc Bình Định.


