Khác

Bước đột phá chiến lược của điện lực Việt Nam

Bước đột phá chiến lược của điện lực Việt Nam

Vĩnh Long08/08/2026Đoàn xã Ninh Gia (Ninh Gia)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

VÕ KHẮC NGHIÊM

Bước đột phá chiến lược của điện lực Việt Nam

Tôi may mắn có vài lần được đi xuyên Việt theo tuyến đường dây điện cao thế Bắc Nam để làm phim tài liệu. Lần thứ nhất (1987-1988) khi đất nước bắt đầu bước vào đổi mới, Quyền Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt vừa ký nhiều quyết định quan trọng, xóa bỏ tem phiếu, xóa bỏ ngăn sông cấm chợ, giải phóng sức sản xuất, lưu thông hàng hóa, đem lại những hiệu quả bước đầu, tạo nên sự phấn khởi, tin tưởng lớn trong toàn dân. Chúng tôi đã ghi được hình ảnh ông Võ Văn Kiệt đến chia vui cùng anh em công nhân xây lắp điện, kéo dây điện cao thế qua sông Hậu, sông Tiền để thực hiện dự án điện khí hóa vùng Tứ giác Long Xuyên của chính ông. Nhưng vài ngày sau khi xuống thăm bà con nông dân, thấy xóm làng vẫn phải đốt đèn dầu, ông Võ Văn Kiệt thở dài, hỏi Bộ trưởng Bộ Năng lượng Vũ Ngọc Hải: "Đến bao giờ mới có đủ điện cho nông dân tiêu dùng?". Năm năm, mười năm.. chà, lâu quá!". Hôm gặp gỡ các doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh, hầu hết các đại biểu không còn "xin cơ chế" mà chỉ xin Chính phủ "cho đủ điện sáng", ông Võ Văn Kiệt cười, hỏi Bộ trưởng Bộ Năng lượng: "Phải có cách nào chứ cứ để thiếu điện, cắt điện triền miên thì công cuộc đổi mới làm sao tăng tốc được". Rồi ông phê phán thói cửa quyền của ngành điện và nhắc lại lời của một vị giám đốc: "Đúng là bây giờ nhất điện, nhì trời". Là nhà lãnh đạo luôn sâu sát, trong nhiều năm làm Phó Thủ tướng và Thủ tướng, ông Võ Văn Kiệt nắm rất rõ tình hình sản xuất điện ở cả ba miền Bắc Trung Nam, nhưng chính ông cũng phải giật mình khi đọc bản tường trình của các chuyên gia năng lượng quốc tế với kết luận: "Tình hình cung ứng điện tại miền Trung và miền Nam là vô cùng thảm khốc, bình quân mỗi người dân miền Trung một năm chỉ có 20 kwh điện. Còn tại miền Nam thiếu đến 50% công suất điện. Nếu các dự án công nghiệp được triển khai nhanh mà không xây dựng kịp các nguồn phát điện thì tình hình cung ứng điện trong vài năm tới càng trở nên thảm khốc hơn".

Cần nhắc lại, sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, tổng công suất phát điện tại miền Nam là trên 800MW, nhưng thực tế chỉ còn khoảng 400MW sử dụng được, tại miền Bắc là 451MW, miền Trung 74MW. Sau khi có thêm Nhà máy nhiệt điện Phả Lại và thủy điện Hòa Bình, công suất phát điện ở miền Bắc đã được nâng lên gần 3.000MW, thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng, thậm chí là thừa điện, Phả Lại phải phát vô công hoặc ngừng chạy. Nhưng cho đến đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, sau khi có thêm thủy điện Trị An, tổng công suất phát điện của cả miền Trung và miền Nam vẫn chưa vượt quá 1.000MW. Hai từ "thảm khốc" mà các chuyên gia năng lượng quốc tế sử dụng đã khiến ông Võ Văn Kiệt mất ăn, mất ngủ, nhiều đêm ông hiểu sâu sắc rằng nếu điện lực Việt Nam không có bước đột phá chiến lược thì kinh tế Việt Nam sẽ bị kìm hãm, công cuộc đổi mới rất khó tăng tốc.

Tôi đã từng gặp chủ tịch ủy ban nhân dân sáu tỉnh miền Trung đến Công ty Điện lực 3 quyết định ứng trước tiền điện để ngành điện có tiền mua dầu chạy máy phát điện. Tôi đã từng đến nhiều xí nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh phải đốt nến để đóng gói hàng và "kỷ niệm 1.000 lần bị cắt điện" theo cách nói hài hước của họ. Trong một lần bay đêm từ miền Trung ra Hà Nội, nhà báo Nguyễn An Định chỉ xuống thành phố Đà Nẵng le lói ánh đèn, nói với tôi: "Miền Trung dưới cánh máy bay... là thế đấy!”. Đó cũng chính là nhan đề bài phóng sự khá sâu sắc của Nguyễn An Định viết về thực trạng thảm khốc của điện miền Trung, được ông Võ Văn Kiệt nhắc lại trong một phiên họp của Chính phủ với ngành điện và ông đã quyết định xây dựng đường dây 220kV để đưa điện từ Hòa Bình vào Huế, Đà Nẵng, giải quyết một phần khó khăn cho miền Trung. Nhưng đường dây 220kV truyền tải xa, tổn thất lớn, không thể kéo tiếp vào phía Nam. Dự án xây dựng thủy điện Yaly công suất 720MW vẫn chưa triển khai được vì thiếu vốn.

Mùng bốn Tết, xuân Tân Dậu 1991, trong cuộc gặp cán bộ ngành điện tại Thành phố Hồ Chí Minh, ông Võ Văn Kiệt thông báo những thành tựu của đất nước trong năm 1990 và nói ngay rằng: "Nếu không vì thiếu điện, tăng trưởng kinh tế của ta còn khá hơn nhiều. - Và ông hỏi: Phải làm gì để chấm dứt tình trạng miền Bắc thừa điện, miền Nam, miền Trung lại thiếu điện nghiêm trọng? Cứ nói thẳng, nói thật để cùng nhau tháo gỡ". Bộ trưởng Bộ Năng lượng Vũ Ngọc Hải rụt rè đáp: "Phải xây dựng hệ thống đường dây siêu cao áp mới hòa mạng được các nguồn phát điện của cả nước, mới chuyển tải điện đi xa". ông Võ Văn Kiệt ngắt lời: "Vậy tại sao không khảo sát, lập dự án?". Bộ trưởng Năng lượng ấp úng: "Vì chi phí quá lớn. Phải hàng ngàn tỷ đồng". Ông Võ Văn Kiệt hơi nhíu mày, gõ tay xuống bàn: "Vậy các đồng chí có biết một ngày phải ngừng sản xuất vì thiếu điện, đất nước, nhân dân phải mất bao nhiêu tỷ không? Nước ta còn nghèo nhưng cái gì cần phải làm để đất nước phát triển nhanh chóng thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu thì không thể ngần ngại. Phải cho triển khai nhanh càng sớm càng tốt".

Hai ngày sau, Bộ Năng lượng đã thành lập ban khảo sát, thiết kế xây dựng dự án đường dây siêu cao áp Bắc Nam. Tuy vẫn liên tục thúc giục Bộ Năng lượng lập nhanh dự án, song ông Võ Văn Kiệt đã nhận được nhiều ý kiến phản hồi, cho rằng đó là một dự án viển vông không chỉ vì quá tốn kém mà còn thiếu tính khả thi về kỹ thuật. Ông vừa tự tìm đọc tài liệu về điện khí hóa ở các nước phát triển, vừa cử chuyên gia ra nước ngoài tìm hiểu học tập kinh nghiệm. Ông còn trực tiếp gặp gỡ các giáo sư, các nhà khoa học trong và ngoài nước, lắng nghe ý kiến của họ. Điều làm ông băn khoăn nhất không phải là chi phí có thể lên đến 500 triệu USD, chiếm 1/4 kim ngạch xuất khẩu của cả nước mà chiều dài của tuyến đường dây lên đến l.560km, hơn gấp hai lần tuyến đường siêu cao áp lớn nhất của nước Pháp. Việt Nam lại là xứ nhiệt đới luôn có nhiều gió bão, rồi những vấn đề như dao động bước sóng và sụt áp là những vấn đề kỹ thuật vô cùng phức tạp.

Nhưng hầu hết các giáo sư, các chuyên gia giàu kinh nghiệm về điện đã khẳng định với ông Võ Văn Kiệt rằng: Với những tiến hộ kỹ thuật hiện đại, chúng ta có đủ điều kiện để xử lý dao động sóng tổn thất điện năng bằng các trạm bù và xây dựng hệ thống cột, đường dây chịu đựng được gió bão lớn. Không nhất thiết phải sử dụng mức điện áp 750kV như ở Mỹ, ở Đức mà chỉ cần chuyển tải ở mức điện áp 500kV là vừa.

Đầu năm 1992, trên cương vị Thủ tướng Chính phủ, quyết định khó khăn nhất của ông Võ Văn Kiệt chính là việc khởi công xây dựng đường dây siêu cao áp 500kV Bắc Nam vào đúng ngày Giải phóng Sài Gòn 30-4 với thời hạn trong hai năm phải hoàn thành (nước Pháp xây dựng 700km mất hơn 7 năm). Ông nói: "Ai không đồng tình cứ đứng sang một bên. Ai đồng tình xin hãy xắn tay áo cùng tiến lên với công nhân xây lắp điện. Chúng ta đã từng xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mỹ thắng lợi. Nay hãy mở con đường sáng dọc Trường Sơn đưa điện miền Bắc vào miền Nam thành công".

Lần này tôi được đi xuyên Việt theo tuyến đường dây 500kV trên chiếc xe Mê Kông của Thủ tướng Võ Văn Kiệt tặng Công ty Xây lắp điện 3. Vốn đã từng học kỹ thuật cơ điện, tôi thuộc lòng công thức bất hủ của Lênin: "Chính quyền Xôviết cộng điện khí hóa toàn quốc" nên tôi rất hào hứng đến với những người thợ xây lắp đường dây 500kV. Điều tôi nghi ngại chính là thời hạn hai năm, liệu có hoàn thành được không? Chất lượng công trình ra sao khi mà phải xây dựng đến 3.423 vị trí móng cột và kéo những sợi cáp to đùng trên suốt chiều dài l.560km trong địa hình vượt sông, vượt núi vô cùng hiểm trở. Tôi đã từng chứng kiến việc xây dựng một hệ thống đường dây 6kV có vài kilômét ở đồng bằng cũng kéo dài hết cả năm trời.

Kỹ sư Trần Viết Ngãi, Tổng Giám đốc Công ty Xây lắp điện 3, Phó Ban thường trực chỉ đạo công trình 500kV nghe tôi nói thế, liền cười và chậm rãi đáp: "Thời hạn hai năm quả là quá ít với một công trình lớn như thế này. Nhưng anh Sáu Dân (cách gọi thân mật Thủ tướng Võ Văn Kiệt) khẳng định chậm thêm ngày nào đất nước thiệt ngày ấy, dân khổ thêm ngày ấy. Chúng ta có cách làm vừa nhanh, vừa tốt khi biết huy động sức mạnh toàn dân, biết chia việc để cùng lo". Cung đoạn I từ Hòa Bình đến Hà Tĩnh do Công ty Xây lắp điện 1 thi công, cung đoạn II từ Hà Tĩnh đến Kon Tum do Công ty Xây lắp điện 3 thi công, cung đoạn III từ Kon Tum đến Đắk Lắk do Công ty Xây lắp điện 4 thi công, cung đoạn IV do Công ty Xây lắp điện 2 thi công. Cung đoạn II là cung đoạn khó khăn nhất vì phải vượt sông kéo điện qua sông Gianh rộng lớn, qua đèo Hải Vân, đèo Lò Xo và nhiều suối sâu, đầm lầy, núi cao chưa hề có đường vận chuyển vật liệu, vừa phải phân tuyến, vừa mở đường rất gian khổ... Cùng với lực lượng công nhân xây lắp điện còn có nhiều lực lượng quân đội, công an và đông đảo nhân dân các địa phương đã hăng hái tham gia xây dựng công trình, suốt ngày đêm sôi động.

Dù thường xuyên báo cáo đầy đủ tiến độ thi công từng tuần, từng tháng, Thủ tướng Võ Văn Kiệt thỉnh thoảng vẫn trực tiếp gọi điện cho ông Trần Viết Ngãi hỏi thăm đời sống công nhân có gì trở ngại không? Dường như vẫn chưa thật yên tâm, Thủ tướng đã nhiều lần trực tiếp đến tận các công trường gian khó nhất để kiểm tra và ông hiểu ngay rằng nếu không tập trung toàn lực để lo đủ vốn, đủ vật tư thì tiến độ sẽ bị chậm lại, nhất là phải đương đầu với hai mùa mưa. Ngay lập tức ông chỉ thị cho Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Tế và Thứ trưởng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng (nay là Chủ tịch Quốc hội) phải bám sát công trình 500kV, giải quyết mọi khó khăn về vốn. Sau chuyến công tác của Thứ trưởng Nguyễn Sinh Hùng đến nhiều vị trí trọng điểm, không một đơn vị nào của tuyến đường dây 500kV còn phải nợ lương. Mọi nguồn vật tư trong nước và nhập khẩu đều được thanh toán nhanh. Rất nhiều đơn vị cơ khí, xây dựng hăng hái xin được đóng góp cho công trình, gia công cột, cung ứng xi măng, sắt thép, chi viện công nhân giỏi nghề.

Nói là thời gian thi công hai năm nhưng phải trừ sáu tháng của hai mùa mưa, mà mưa Trường Sơn quả là khốc liệt. Chúng tôi đã từng bị "giam" tại đỉnh đèo Hải Vân B và đèo Lò Xo cả tuần liền bởi những trận mưa ào ạt kéo dài, cuốn đổ đất đá, lấp hết cả lối đi. Những anh thợ trẻ bị sốt rét chỉ biết nằm nhìn mưa, húp cháo, thở dài, vì thế họ không nghỉ ngày chủ nhật, không nghỉ lễ, nghỉ tết, làm thông cả ba ca để bù lại năng suất thiếu hụt trong cả mùa mưa. Những đêm lửa trại rộn vang tiếng đàn, tiếng hát. Không nơi nào có phong trào ca hát sôi động và chất lượng cao như ở Công ty Xây lắp điện 3. Thủ tướng Võ Văn Kiệt rất vui khi được nghe những tiết mục "tự biên tự diễn" của công nhân xây lắp điện. Ông khen "không thua gì chuyên nghiệp". Ông tỏ ra rất thích ca khúc của anh lái xe Phương Tài với đầu đề ngồ ngộ: Giọt mồ hôi rơi trên má mặt trời. Đạo diễn An Ninh đã chộp cái tứ này đặt tên cho bộ phim ký sự ca nhạc của mình và đã giành được Huy chương vàng Liên hoan truyền hình xuân 1995.

Lần nào đến thăm công nhân xây dựng đường dây 500kV, Thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng cảm thấy như mình trẻ lại bởi khí thế lao động quên mình và lối sống chân thành, cởi mở, yêu đời của những người thợ. Từ anh lái xe, chị cấp dưỡng, cô ca sĩ... đều chuyện trò cởi mở với “anh Sáu Dân” như người thân trong nhà, khiến ông rất vui, đi bộ hàng cây số không thấy mệt. Nhưng đã có một sự kiện làm ông phải buồn, thậm chí là "bất lực", đó là vụ mua bán vòng vèo sắt thép cho đường dây này, khiến cho Bộ trưởng Năng lượng Vũ Ngọc Hải và Thứ trưởng Lê Liêm phải ngồi tù. Tôi đã dự suốt phiên tòa xử ông Hải. Dù số tiền 3,1 tỷ đồng người ta định kiếm lợi đã được thu hồi và ông Hải chẳng hề được chia chác gì, người ta vẫn khép tội ông "thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng" với mức án ba năm tù. Hơn ai hết, ông Võ Văn Kiệt hiểu rõ trường hợp phạm tội của ông Hải và là người luôn trọng tình nghĩa, ngay sau khi đóng điện vận hành tuyến đường dây 500KV đưa điện từ Hòa Bình an toàn vào Phú Lâm, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đích thân vào nhà tù gắn Huy hiệu đường dây 500kV cho ông Vũ Ngọc Hải. Đài BBC có bài đánh giá cao nghĩa cử của ông Võ Văn Kiệt cùng bình luận ca ngợi công trình 500kV như một đột phá chiến lược, mở ra một thời kỳ tăng tốc mới của kinh tế Việt Nam.

Nhắc lại kỷ niệm sâu sắc với cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt và đường dây 500kV, ông Trần Viết Ngãi cho tôi biết: Dự toán công trình 5.700 tỷ, nhưng quyết toán chỉ có 5.200 tỷ đồng, chỉ sau ba năm vận hành đã thu hồi vốn. Bây giờ đã có thêm đường dây 500kV mạch hai, chúng ta lại phải chuyển tải điện từ miền Nam ra cho miền Bắc tiêu dùng. Từ bài học đường dây 500kV, Thủ tướng đã mạnh tay cho xây dựng nhanh thủy điện Yaly cùng nhiều thủy điện, nhiệt điện khác và cả các nhà máy điện chạy khí đồng hành công suất lớn, cả nước bây giờ mới có tổng công suất phát điện 14.000MW và tiêu dùng bình quân của người Việt Nam mới vươn tới được 700kWh điện một năm.

Khi ngành than tăng tốc

Vùng than Quảng Ninh là khu công nghiệp đầu tiên được Đảng, Nhà nước và Bác Hồ đặc biệt quan tâm, đầu tư cơ khí hóa, hiện đại hóa sớm nhất, được ưu tiên bao cấp tốt nhất. Nhưng suốt mấy chục năm ròng, sản lượng than đến những năm đầu của công cuộc đổi mới vẫn chưa thể vượt qua được con số năm triệu tấn/năm. Khi chuyển đổi sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường, các mỏ than đều gặp lúng túng. Qua nhiều lần thay đổi tổ chức, không đem lại hiệu quả, đã có lúc có ý kiến giao ngành than cho tỉnh quản lý. May mắn thay, Thủ tướng Võ Văn Kiệt là người đã bác bỏ ngay ý kiến này: "Không thể biến một ngành kinh tế chiến lược của đất nước thành một ngành công nghiệp địa phương". Chỉ thị đầu tiên của ông Võ Văn Kiệt với ngành than trong cương vị Thủ tướng là "lập lại trật tự trong khai thác và tiêu thụ than". Thời kỳ làm Phó Thủ tướng, ông đã nhiều lần xuống làm việc với tỉnh, với đại biểu công nhân, cán bộ ngành than lắng nghe từng ý kiến và trực tiếp giải quyết từng khó khăn. Từ việc cho ngành than đổi USD lấy tiền mặt VNĐ để trả lương cho công nhân đến việc cho tỉnh và ngành than đổi sắt vụn, đổi than lấy lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng... Nhưng việc lập lại trật tự trong khai thác và tiêu thụ than không thể chỉ bằng một quyết định, một chỉ thị mà phải tiến hành đồng bộ trong tổ chức, quản lý và trong sự phối hợp của nhiều ngành. Ông hiểu đã đến lúc bộ không thể làm thay việc cho các doanh nghiệp mà phải thực sự đi vào quản lý nhà nước sao cho doanh nghiệp quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh tự chịu trách nhiệm để gắn bó lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích từng người thợ. Từ thực tiễn của ngành điện, ngành than, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã thấy rõ sự cấp thiết phải ra đời một hình thức tổ chức phù hợp trong xu thế toàn cầu hóa. Đó là mô hình tập đoàn kinh tế mạnh. Bước đầu tạm đặt là Tổng Công ty Điện, Tổng Công ty Than... Giải thể Bộ Năng lượng, thành lập Bộ Công nghiệp mới. Là người có lần làm "quân xanh" trong bầu cử chức vụ, Thủ tướng Võ Văn Kiệt luôn thận trọng trong việc đề bạt cán bộ. Nhưng với trường hợp để bạt kỹ sư Đoàn Văn Kiển giữ chức Tổng Giám đốc Tổng Công ty Than Việt Nam thì ông rất quyết đoán và không hề có phương án dự phòng, cho dù vợ ông Kiển đã có thư gửi Thủ tướng xin cho chồng không phải gánh trách nhiệm nặng nề... Thì ra tuy giao cho Bộ trưởng Thái Phụng Nê xuống Quảng Ninh cùng với ông Nguyễn Viết Hòe - Chủ tịch Hội đồng quản trị chọn nhân sự cho Tổng Công ty Than, nhưng Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã tự mình tìm hiểu thêm về Đoàn Văn Kiển, một kỹ sư được đào tạo ở nước ngoài, có nhiều năm đã lăn lội với thợ lò Mông Dương và gây dựng Công ty Than 3 (Than nội địa) là một công ty nhỏ nhưng có tầm vóc lớn. Thủ tướng tin vào sức trẻ, tin vào những cán bộ được tôi luyện từ cơ sở, có tấm lòng vì người thợ. Ông nói với Bộ trưởng Thái Phụng Nê: "Nếu vợ cậu Kiển bị đau tim thì bộ nên giúp đưa cô ấy ra nước ngoài chữa bệnh để cậu Kiển yên tâm nhận nhiệm vụ. Nếu cần, tôi sẽ trực tiếp gặp". Đó là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời ông Đoàn Văn Kiển và cũng chính là bước ngoặt quan trọng của cả ngành than, mở đầu thời kỳ tăng trưởng nhanh, vượt qua mốc mười triệu tấn rồi hai mươi triệu, ba mươi triệu, bốn mươi triệu tấn/năm.

Thủ tướng Võ Văn Kiệt là người chăm đọc báo, nghe đài, xem truyền hình. Ông thường ghi chép những chi tiết nhỏ nhưng hữu ích và sử dụng nó đúng lúc, đúng chỗ. Vào mùa hè 1994, tôi có làm một bộ phim phóng sự Nhận diện lại vùng than phát trên VTV1 và một bàiVùng than bên bờ vực thẳm đăng trên báo Lao động,  cuối bài tôi đưa ra ý kiến của nhiều người rằng, một Tổng Công ty Than Việt Nam có trụ sở tại thành phố Hạ Long sẽ tạo được sức mạnh dẹp nạn than thổ phỉ, thiết lập lại trật tự trong sản xuất, tiêu thụ than.

Tháng 11-1994, công nhân mỏ và nhân dân Quảng Ninh rất phấn khởi khi Thủ tướng quyết định: "Trụ sở Tổng Công ty Than Việt Nam đặt tại thành phố Hạ Long". Sau này, khi trật tự đã được lập lại, sản lượng đã tăng nhanh, cần phải mở rộng quan hệ, đẩy mạnh tiêu thụ, xuất khẩu, Tổng Công ty Than đề nghị chuyển trụ sở về Hà Nội, nhưng vì tỉnh Quảng Ninh phản đối nên Thủ tướng đã có một quyết định rất đặc biệt: cho Tổng Công ty Than có hai con dấu, một ở Hạ Long, một ở Hà Nội.

Năm 1997, khi cuộc khủng hoảng kinh tế ở châu Á lan rộng, tiêu thụ than chững lại, Tổng Công ty Than lập dự án tự đầu tư xây dựng Nhà máy nhiệt điện Na Dương. Bàn đi bàn lại mãi không xong, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã chủ trì một cuộc họp tại thành phố Hạ Long để nghe ngành than, ngành điện trình bày. Thời kỳ này miền Bắc vẫn còn dư thừa nguồn phát điện nên Tổng Công ty Điện tỏ ra ngần ngại với giá thành, chất lượng điện của ngành than... Giờ giải lao, các nhà báo nói với Thủ tướng về than Na Dương nhiệt lượng thấp, nhiều lưu huỳnh, nếu không làm nhiệt điện thì phải bỏ đi đóng cửa mỏ. Công nhân Na Dương gần đây đã phải kiếm sống bằng trồng thuốc lá. Trở lại cuộc họp, Thủ tướng hỏi đi hỏi lại Chủ tịch Hội đồng Quản trị Nguyễn Viết Hòe: "Có đúng than Na Dương không làm nhiệt điện thì chẳng làm được gì khác không?". Ông Hòe trình bày thêm không chỉ than Na Dương mà than ở Quán Triều cũng rất xấu, rất khó tiêu thụ... Thủ tưởng Võ Văn Kiệt đứng ngay dậy và khẳng định: "Phải làm ngay nhiệt điện Na Dương, Chính phủ sẽ xem xét và quyết định giá bán điện sau khi xây dựng xong nhà máy. Tại sao Trung Quốc vẫn mua than nhiệt lượng thấp của ta để làm nhiệt điện còn chúng ta lại cứ chần chừ? Rồi đến lúc chúng ta thiếu điện, phải mua điện của họ với giá cao thì sao nhỉ?". Điều tiên đoán đó đã trở thành sự thật. Mấy năm qua chúng ta đã phải mua một lượng điện khá lớn của Trung Quốc cao hơn giá bán. Một phong trào làm nhiệt điện đang trở nên "quá tải" so với năng lực cung ứng của ngành than, mà theo tổng sơ đồ phát triển đến năm 2025 thì phải nhập khẩu chừng sáu mươi triệu tấn than cho các nhà máy nhiệt điện. Cuối tháng 4-2008, trở lại thăm vùng than Quảng Ninh, thăm Nhà máy điện Na Dương, ông Võ Văn Kiệt vui mừng thấy sản lượng than đã tăng gấp tám lần và điện Na Dương đã bừng sáng cả một vùng biên cương. Ông nói với kỹ sư Đoàn Văn Kiển: Dù sau này có thêm nhiều nguồn năng lượng sạch thì than mãi mãi vẫn là thứ vàng đen quý báu. Đã đến lúc cần phải đầu tư cho công nghệ hóa than như hóa dầu và phải làm gì để nước ta "không phải nhập than". Điều này là rất khó khăn, nhưng phải mạnh bạo, quyết liệt, dũng cảm dám chịu trách nhiệm, vì đất nước vì nhân dân. Ông Võ Văn Kiệt vỗ vai ông Kiển nhắc lại điều ông đã nói hôm ngành than đón nhận danh hiệu đơn vị Anh hùng Lao động: Này, mình cũng là chiến sĩ dẹp "than thổ phỉ" đấy nhé!

Kiến trúc sư của ngành dầu khí

Từ những năm còn làm Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, ông Võ Văn Kiệt đã đặc biệt quan tâm đến tình hình khai thác dầu khí ở Vũng Tàu. Sau này trong cương vị Phó Thủ tướng và Thủ tướng, ông Võ Văn Kiệt có cách nhìn rất mới, rất lạ về ngành dầu khí, một ngành non trẻ của Việt Nam nhưng có vị trí cực kỳ quan trọng đối với toàn cầu. Rất nhiều người tỏ ra ngạc nhiên khi ông quyết định tách Tổng Công ty Dầu khí ra khỏi Bộ Công nghiệp nặng, trực thuộc Chính phủ, tạo cho dầu khí tính tự chủ với ý thức trách nhiệm cao, bớt phải "bẩm báo, phiền hà", đồng thời cũng "giảm tải" cho bộ vốn đã rất ôm đồm, thích làm thay, tranh việc của các doanh nghiệp. Là người rất sâu sát, ông Võ Văn Kiệt hiểu rất rõ những bất cập trong các thủ tục hành chính mà càng cải tiến càng lộ ra nhiều kẽ hở. Tuy sản lượng bước đầu chưa lớn nhưng dầu khí đã được Thủ tướng coi như một bộ nhỏ. Mỗi lần đến với công nhân cán bộ dầu khí, ông thường làm việc rất kỹ, rất trăn trở, không lần nào ông chỉ đến thăm hỏi, động viên chung chung. Bao giờ ông cũng lắng nghe, cũng đưa ra những quyết định tức thời. Trong một lần đến làm việc với Xí nghiệp liên doanh Dầu khí Việt Xô, ông lặng người đứng nhìn ngọn lửa đang đốt cháy hàng triệu mét khối khí đồng hành phải bỏ đi vừa lãng phí vừa gây ô nhiễm nặng cho môi trường. Ông đã quyết định nhanh chóng thành lập ngành công nghiệp khí và chỉ trong vòng ba năm, nguồn khí trị giá hàng tỷ USD đã được sử dụng hiệu quả, mở ra những nhà máy phát điện chạy khí có công suất đến trên 4.000MW, gấp bốn lần công suất phát điện của cả nước năm 1975. Rồi mô hình khí - điện đạm Cà Mau đã mang lại cho mảnh đất cực Nam của Tổ quốc một vùng sáng mới rất cần được nhân rộng. Ông Đinh La Thăng Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Dầu khí nhận xét: "Hơn ai hết, đồng chí Võ Văn Kiệt hiểu rõ dầu khí là một ngành công nghiệp đòi hỏi nhiều trí tuệ và sự tinh tế trong điều hành… Đồng chí đã chỉ đạo Tổng Công ty dầu khí lúc ấy phải nhanh chóng gia tăng tỷ trọng dịch vụ, đặc biệt là loại dịch vụ phức tạp về kỹ thuật... Ngành dầu khí đã đưa tỷ trọng dịch vụ lên nhanh, đến nay tăng hàng trăm lần, đáp ứng mọi nhu cầu nội địa và yêu cầu của các nhà thầu quốc tế". Thủ tướng Võ Văn Kiệt là người đã sớm nghĩ đến công nghiệp hóa dầu và cũng là người đưa ra quyết định đầy tranh cãi về địa điểm đặt nhà máy lọc dầu đầu tiên của nước ta tại Dung Quất. Ông biết rõ Dung Quất chưa có cơ sở hạ tầng, lại xa các giếng dầu. Nhưng ông muốn từ Dung Quất tỏa sáng cho một phần miền Trung nghèo khó, coi đó là sự tác động nhanh nhất, mạnh nhất để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa những vùng đất heo hút, khó khăn, góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao dân trí… Tiếc rằng, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt không được chứng kiến dòng sản phẩm đầu tiên của Nhà máy lọc dầu Dung Quất xuất xưởng. Nhưng công nhân cán bộ ngành dầu khí Việt Nam luôn ghi nhớ công lao của ông, tầm nhìn của ông, tấm lòng của ông. Họ gọi "anh Sáu dân là kiến trúc sư của ngành dầu khí Việt Nam". Đã có một con đường lớn dài hơn 20km từ ngã ba Bình Long đến cảng Dung Quất mang tên Võ Văn Kiệt. Trong một tương lai gần, Việt Nam sẽ có nhiều nhà máy lọc dầu như Dung Quất. Ngành dầu khí Việt Nam đã đầu tư kinh doanh đa ngành rất có hiệu quả và đang vươn tới những vùng dầu quốc tế xa...

Ngay sau khi đóng điện đường dây 500kV, tôi đã viết một phần cuốn tiểu thuyết Những ngõ tối trên đường sáng, khắc họa hình tượng ông Võ Văn Kiệt với những khát vọng lớn. Đã hai lần được cấp giấy phép xuất bản, mười lăm năm rồi mà cuốn sách của tôi vẫn chưa thể hoàn thành. Có những lý do khách quan và cả cái sự hèn của chính mình. Tôi vẫn day dứt cảm thấy còn mắc nợ ông, mắc nợ những người công nhân, cán bộ ngành năng lượng Việt Nam một tác phẩm đúng với tầm vóc thời kỳ chuyển đổi quan trọng của đất nước, tầm vóc của một vị Thủ tướng tài năng luôn hướng nhịp đập trái tim mình vào lợi ích dân tộc và sự hưng thịnh của quốc gia.

__________

* Bài đăng nên báo Văn nghệ, số 22, ngày 30-5-2009, tr.4.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Bước đột phá chiến lược của điện lực Việt Nam | Câu chuyện thời hoa lửa