Bài viết

CÂU CHUYỆN CỦA ĐỒNG CHÍ TRẦN HẢI SƠN

Hà Tĩnh06/04/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháng 12 năm 1972, nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc và bạn bè cùng lứa, ông Nguyễn Sơn( sinh năm 1955 tại xã Giao Ninh, tỉnh Ninh Bình) đã lên đường nhập ngũ. Ông được phân vào C32, D3, E126 thuộc hải quân,lúc này ông đổi tên thành Trần Hải Sơn. Ngày 1/5/1973 ông tham gia lễ duyệt binh tại Hà Nội, duyệt binh xong ông về Quảng Ninh xây dựng kho Thủy Lôi. Tháng 1/1974 ông vào Nam tham gia chiến đấu. Vào tới Lộc Ninh thì đi bộ xuống Rừng Sác- Biên Hòa. Tại đây ông được phân vào đội 32- đoàn Z23- Lữ đoàn 316. Đến đêm ngày 16 rạng sáng 17/11/1974 , ông cùng đơn vị tham gia đánh chốt Bến Trảng , xã Long Tân- Nhơn Trạch. Trận chiến đấu diễn ra ác liệt khiến nhiều người hy sinh, nhiều người bị thương, có những người mất nhưng không tìm thấy xác. Ngày 8/1/1975 ông vào Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam. Đêm , ông cùng đại đội vượt sông Tắc chi viện cho Huyện đội Nhơn Trạch rồi bị phục kích tại rạch dừa. Súng đạn của giặc bắn dày đặc làm quân ta lật thuyền nhưng may mắn chỉ có 1 người bị thương. Đến tháng 3/1975 ông cùng một người đồng đội được giao nhiệm vụ trinh sát tàu chở bom đạn vào kho bom Nhơn Trạch của địch. Tại đây điều kiện sống rất kham khổ: đói thì chỉ được ăn một chút gạo rang hoặc rau dại, khát thì phải múc nước sông uống; tuy vậy ý chí quyết tâm chiến đấu của ông và đồng đội chưa bao giờ vụt tắt. Đêm ngày 26/4/1975 , vượt sông Rạch Chiếc, bị địch bắn trả, tiếng pháo ,đạn của giặc nổ vang trời. Chính tại đây đội của ông chết mấy chục người, ông phải lặn xuống đáy sông mới thoát chết. Khi lên bờ trên người ông chỉ còn 1 khẩu M79 không đạn. Những mảnh pháo đạn rơi xung quanh nhưng may mắn ông vẫn bình yên. Trời tối om. Một lúc sau ông gặp lại được 3 người đồng đội. Bốn người đi dưới mưa đạn của giặc, rồi gặp mấy người lạ hỏi mật khẩu nhưng thấy nói toàn tiếng miền Nam , biết là lính ngụy nên đội bỏ chạy. Cũng chẳng ai bắn ai, súng ông không đạn, ướt hết, lính ngụy cũng vậy, sau này tình huống đó được ông gọi như là thần thoại. Gần sáng 27/4/1975 , 4 người ẩn nấp tại bụi tre của một cụ già ( sau này ông được biết là má Triện) . Má đưa cơm cho ăn, má băng bó vết thương cho đội của ông. Tối hẳn, má dẫn 4 người ông ra sông Rạch Chiếc, vượt sông sang bờ bên kia thì gặp lại được đồng đội . Chiến sự lúc này rất ác liệt, trên trời trực thăng địch đang di tản, pháo của quân ta từ Nhơn Trạch bắn vào thành phố. Sài Gòn báo động. Đại đội của ông cùng phối hợp với đội E113( đặc công bộ) tiến vào giải phóng Sài Gòn. Khoảng 8-9 giờ sáng ngày 30/4 thì tự nhiên từng dòng xe pháo, súng ống của giặc chạy loạn xạ vào Sài Gòn. Thì ra quân ta đang bao vây đằng sau. Đến 11giờ 30, đội ông nhận tin đã giải phóng được dinh Độc Lập, cả đội ai cũng reo hò vui sướng, có người xúc động rơi nước mắt. Chiều 30/4 ông đi xe cùng chỉ huy vào Sài Gòn báo cáo và áp tải tù binh ra đảo Phú Quốc . Sau này khi đất nước hoàn toàn hoà bình, ông trở lại quê hương lập gia đình. Ông luôn dạy con cháu phải biết quý trọng hoà bình, biết ơn công lao của những người đi trước. Đôi lúc ông thường nói với chúng tôi rằng: ông còn sống trở về được đều là nhờ những người đồng đội đã hi sinh ,thay ông gánh những quả pháo, viên đạn. Nhưng với tôi đó còn là nhờ tinh thần" quyết chiến quyết thắng", không bao giờ chịu khuất phục trước kẻ thù của ông và những người đồng đội. Tuy giờ ông đã đi xa nhưng hình ảnh người ông cao gầy mang trên mình những vết sẹo do đạn bom để lại, luôn hết lòng vì con vì cháu vẫn mãi in đậm trong tâm trí của tôi, như nhắc nhở tôi " Câu chuyện về một thời hoa lửa".

Bài viếtTháng 12 năm 1972, nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc và bạn bè cùng lứa, ông Nguyễn Sơn( sinh năm 1955 tại xã Giao Ninh, tỉnh Ninh Bình) đã lên đường nhập ngũ. Ông được phân vào C32, D3, E126 thuộc hải quân,lúc này ông đổi tên thành Trần Hải Sơn. Ngày 1/5/1973 ông tham gia lễ duyệt binh tại Hà Nội, duyệt binh xong ông về Quảng Ninh xây dựng kho Thủy Lôi. Tháng 1/1974 ông vào Nam tham gia chiến đấu. Vào tới Lộc Ninh thì đi bộ xuống Rừng Sác- Biên Hòa. Tại đây ông được phân vào đội 32- đoàn Z23- Lữ đoàn 316. Đến đêm ngày 16 rạng sáng 17/11/1974 , ông cùng đơn vị tham gia đánh chốt Bến Trảng , xã Long Tân- Nhơn Trạch. Trận chiến đấu diễn ra ác liệt khiến nhiều người hy sinh, nhiều người bị thương, có những người mất nhưng không tìm thấy xác. Ngày 8/1/1975 ông vào Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam. Đêm , ông cùng đại đội vượt sông Tắc chi viện cho Huyện đội Nhơn Trạch rồi bị phục kích tại rạch dừa. Súng đạn của giặc bắn dày đặc làm quân ta lật thuyền nhưng may mắn chỉ có 1 người bị thương. Đến tháng 3/1975 ông cùng một người đồng đội được giao nhiệm vụ trinh sát tàu chở bom đạn vào kho bom Nhơn Trạch của địch. Tại đây điều kiện sống rất kham khổ: đói thì chỉ được ăn một chút gạo rang hoặc rau dại, khát thì phải múc nước sông uống; tuy vậy ý chí quyết tâm chiến đấu của ông và đồng đội chưa bao giờ vụt tắt. Đêm ngày 26/4/1975 , vượt sông Rạch Chiếc, bị địch bắn trả, tiếng pháo ,đạn của giặc nổ vang trời. Chính tại đây đội của ông chết mấy chục người, ông phải lặn xuống đáy sông mới thoát chết. Khi lên bờ trên người ông chỉ còn 1 khẩu M79 không đạn. Những mảnh pháo đạn rơi xung quanh nhưng may mắn ông vẫn bình yên. Trời tối om. Một lúc sau ông gặp lại được 3 người đồng đội. Bốn người đi dưới mưa đạn của giặc, rồi gặp mấy người lạ hỏi mật khẩu nhưng thấy nói toàn tiếng miền Nam , biết là lính ngụy nên đội bỏ chạy. Cũng chẳng ai bắn ai, súng ông không đạn, ướt hết, lính ngụy cũng vậy, sau này tình huống đó được ông gọi như là thần thoại. Gần sáng 27/4/1975 , 4 người ẩn nấp tại bụi tre của một cụ già ( sau này ông được biết là má Triện) . Má đưa cơm cho ăn, má băng bó vết thương cho đội của ông. Tối hẳn, má dẫn 4 người ông ra sông Rạch Chiếc, vượt sông sang bờ bên kia thì gặp lại được đồng đội .Chiến sự lúc này rất ác liệt, trên trời trực thăng địch đang di tản, pháo của quân ta từ Nhơn Trạch bắn vào thành phố. Sài Gòn báo động. Đại đội của ông cùng phối hợp với đội E113( đặc công bộ) tiến vào giải phóng Sài Gòn. Khoảng 8-9 giờ sáng ngày 30/4 thì tự nhiên từng dòng xe pháo, súng ống của giặc chạy loạn xạ vào Sài Gòn. Thì ra quân ta đang bao vây đằng sau. Đến 11giờ 30, đội ông nhận tin đã giải phóng được dinh Độc Lập, cả đội ai cũng reo hò vui sướng, có người xúc động rơi nước mắt. Chiều 30/4 ông đi xe cùng chỉ huy vào Sài Gòn báo cáo và áp tải tù binh ra đảo Phú Quốc .Sau này khi đất nước hoàn toàn hoà bình, ông trở lại quê hương lập gia đình. Ông luôn dạy con cháu phải biết quý trọng hoà bình, biết ơn công lao của những người đi trước. Đôi lúc ông thường nói với chúng tôi rằng: ông còn sống trở về được đều là nhờ những người đồng đội đã hi sinh ,thay ông gánh những quả pháo, viên đạn. Nhưng với tôi đó còn là nhờ tinh thần" quyết chiến quyết thắng", không bao giờ chịu khuất phục trước kẻ thù của ông và những người đồng đội. Tuy giờ ông đã đi xa nhưng hình ảnh người ông cao gầy mang trên mình những vết sẹo do đạn bom để lại, luôn hết lòng vì con vì cháu vẫn mãi in đậm trong tâm trí của tôi, như nhắc nhở tôi " Câu chuyện về một thời hoa lửa".

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn