Câu chuyện của người thợ in báo Nguyễn Văn Trân trước ngày cách mạng thành công (1)

Năm nay, ông Nguyễn Văn Trân sang 100 tuổi Ta - tuổi trời cho. Nhưng có lẽ, người đương đại thường nhìn ông là cây cao bóng cả, bởi ông làm Bí thư Thành ủy Hà Nội từ 70 năm trước - năm 1946, khi Hà Nội mở đầu trang sử kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc. Có lẽ, rất ít người biết ông đã lập nghiệp và trưởng thành từ nghề thợ in báo. Đó là vào những năm 30 của thế kỷ XX, Hà Nội đã là trung tâm văn hóa - nghệ thuật - báo chí của cả nước.
Năm 1936, phong trào Đông Dương Đại hội như luồng gió mới thổi vào đời sống tù đọng, ngột ngạt của nhân dân. Một tuần một lần, anh em thợ in đến nhà in Lê Văn Tân nghe ông Trần Huy Liệu công khai diễn thuyết về quyền tự do dân chủ, lập ái hữu của thợ thuyền…Lần đầu tiên người thợ in Nguyễn Văn Trân được biết đến Liên bang Xô Viết qua phóng sự của ông Trần Đình Long. Ánh sáng ùa vào nhận thức, tư tưởng tình cảm, thúc giục ông hăng hái tham gia hoạt động bí mật. Mỗi ca in báo, ông tranh thủ tuyên truyền trong anh em thợ. Sau lớp huấn luyện do đồng chí Trường Chinh giảng, tháng 3 năm 1936, trong căn nhà chật hẹp của ông Nguyễn Kim Linh ở phố Hàng Cót, ông Trân được kết nạp vào Đảng, và trở thành cán bộ hoạt đông trong Hội ái hữu thợ in. Năm 1937, dưới sự chỉ đạo của Bí thư Xứ ủy kiêm Bí thư Thành ủy Lương Khánh Thiện, ông Trân là một trong 7 người của Ban đại biểu Liên đoàn Lao động lên gặp Thống sứ Châtel (Sa-ten) đưa yêu sách đòi “Tự do tổ chức nghiệp đoàn”. Châtel chỉ cho lập Hội Ái hữu, nên sau đó, các nhà máy, các ngành đều tổ chức Hội Ái hữu và đấu tranh đòi quyền lợi của người lao động.Kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5/1938, dưới sự chỉ đạo của Mặt trận Dân chủ Đông Dương, ông tổ chức anh em ngành in giương cao biểu ngữ, khẩu hiệu, hào hứng, sôi nổi đi đòi quyền lợi của công nhân. Nhớ lại câu chuyện phải ăn ngủ ngay tại trụ sở Ái hữu ngành in để chỉ đạo thợ in và chịu nạn thất nghiệp hàng tháng trời, ông nói: Mỗi bữa, tôi chỉ ăn bánh mì 2 xu do anh em thợ tương trợ, rồi tôi phải chuyển qua nhiều nhà in các báo Đông Pháp, Ngọ Báo, Tin Mới, Cậu Ấm… với đồng lương rẻ mạt. Hồi ấy, chuyển đến mỗi nhà in báo xin việc phải có thẻ do Sở Lao động cấp, gọi là Livre de Travail, người quản lý báo mới cho vào làm thử việc; nhưng tôi vẫn thay đổi nơi làm, không cố định lâu ở nhà in nào để giữ bí mật. Các nhà in nhỏ cũng chỉ trả lương cho tôi 6 đến 8 đồng một tháng thôi, và tôi cũng dành ra một phần lương để giúp Hội ái hữu thợ in hoạt động.
Năm 1938, cơ quan lãnh đạo Thành ủy Hà Nội kiện toàn, ông Trần Quý Kiên (tức Đinh Xuân Nhạ) làm Bí thư Thành ủy thay ông Lương Khánh Thiện chuyển công tác khác; ông Nguyễn Văn Trân và Văn Tiến Dũng được chỉ định bổ sung vào Thành ủy. Con đường đến với cách mạng từ đời thợ in trở thành người đảng viên cộng sản và phẩm chất ham học hỏi dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của người lãnh đạo cao nhất thành phố được hình thành; rèn luyện bắt đầu từ cuộc đời người thợ suốt 9 năm làm báo cho các chủ in (1931-1939) đầy cơ cực của kiếp sống nô lệ như thế.
*In báo Giải Phóng của Xứ ủy Bắc kỳ
Tháng 9 năm 1939, chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ. Chính phủ Pháp theo phe phát xít khủng bố Đảng cộng sản. Nhiều tòa soạn báo bị đóng cửa; các ái hữu, các hội đoàn bị giải tán. Trước tình hình đó, tháng 9-1939, Xứ ủy Bắc kỳ quyết định ra báo bí mật, đặt tên báo là Giải Phóng, do đồng chí Hoàng Văn Thụ, Bí thư Xứ ủy phụ trách. Báo in litô trên đá, một tháng ra một số, 4 trang, phát hành bí mật 500 bản(1). Sau một thời gian in báo tại cơ sở ở Cổ Loa, bị Pháp phát hiện, cơ sở in báo chuyển đến Vạn Phúc, rồi lại chuyển đến làng Ngọc Trục, xã Đại Mỗ, nay thuộc phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm(2). Vì đã từng làm nghề in, ông Trân được tổ chức đưa ra làng này cùng ông Lê Viên bí mật in báo "Giải Phóng". Chỉ in được ba số, cơ sở in ấn lại bị lộ do có người trong làng đi báo với chính quyền địch rằng: có ổ in giấy bạc giả tại làng! Ngay lập tức, hai ông bị bắt cùng với các tang chứng là bàn đá và một số báo Giải Phóng(3). Cả hai ông bị giải về giam ở nhà tù Hà Đông tra khảo; sau đó tên chánh mật thám Lanèque đưa ra Sở Mật thám Hà Nội. Lúc đó, nhà nhà đã chuẩn bị đón Tết Canh Thìn (1940). Sau vụ mật thám làm dữ, báo Giải Phóng của Xứ ủy Bắc kỳ cũng ngừng bản(4).
Khoảng tháng 5-1940, thực dân Pháp xét xử, kết án ông Trân 10 năm tù khổ sai, sau đó bị đưa lên nhà ngục Sơn La tháng 7-1940. Ngày 3-8-1943, chi bộ nhà tù Sơn La tổ chức cho ông và ba đồng chí là: Nguyễn Lương Bằng (Sao Đỏ), Nguyễn Tuấn Đáng (tức Trần Đăng Ninh), Lưu Đức Hiểu vượt ngục. Sau khi thoát khỏi nhà tù Sơn La, ông tiếp tục hoạt động cách mạng cho đến khi cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 thành công.
Từ người thợ in báo, ông Nguyễn Văn Trân đã trưởng thành trong lửa cách mạng, đòi quyền sống trong dân chủ, độc lập, tự do như thế!


