CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA (8)
DA
Chuyện tình thời hoa lửa – cuốn tự truyện của nhà giáo kháng chiến Phạm Thị Hải Ấm là những trang viết chân thực, sinh động, tỉ mỉ… về những năm tháng chiến đấu, công tác của chị với những người đồng chí, đồng đội của mình và cả những tình cảm nhớ thương da diết chị dành cho những người thân yêu, ruột thịt. Những năm tháng ấy với biết bao kỉ niệm vui buồn của chính bản thân, những tình cảm thân thương trìu mến với những nơi chị đã đi qua, với từng con người mà chị đã gặp. Tất cả đã trở thành nỗi nhớ, niềm yêu thương vô bờ. Phạm Thị Hải Ấm nhận ra rằng con đường của hạnh phúc càng chông gai, càng thử thách thì giá trị của hạnh phúc càng lớn lao và bền vững. Và đúng như thế, cuộc đời chị là một minh chứng cho những điều vừa nói ở trên.
Chuyện tình thời hoa lửa gồm có 14 chương và phần Phụ lục: Đó là ký ức về một thời hoa lửa. Niềm vui, hạnh phúc và có cả những giọt buồn xốn xang của một chặng đường mà chị đã sống và cống hiến. Phạm Thị Hải Ấm đã dành cả tâm huyết, tình yêu thương, sự nghiêm túc, cẩn trọng trong từng chi tiết để hoàn thành cuốn tự truyện Chuyện tình thời hoa lửa.Rời mảnh đất Phú Thọ, nơi chôn nhau cắt rốn theo sự điều động của Bộ Giáo dục – Đào tạo để lên đường vào Nam làm nhiệm vụ (5/3/1969). Chị được phân về miền Tây Nam Bộ dạy Trường Nguyễn Văn Bé (Trường này giành cho con em cán bộ Trung, cao cấp của khu 8) nhưng hình ảnh con người và cuộc sống quê hương vẫn in đậm trong tâm can Phạm Thị Hải Ấm. Những ký ức thời thơ ấu, những điều mắt thấy, tai nghe và cả những lời kể của mẹ, hình ảnh của cha luôn hiện diện. Cảnh nhà mình, cảnh làng quê, phố huyện, chuyện trong nhà, dòng họ, xóm giềng vẫn vẹn nguyên trong trái tim.
Là người con sinh ra và lớn lên trong khói lửa của chiến tranh nên Phạm Thị Hải Ấm ý thức sâu sắc về trách nhiệm của một công dân nên chị không ngần ngại lên đường vào Nam theo sự phân công. Nhưng là phụ nữ nên cũng không tránh khỏi những phút yếu lòng. “Đi đường mệt mỏi nhưng đêm Trường Sơn đầu tiên tôi rất khó ngủ bởi nỗi nhớ nhà cồn cào mà phải cắn răng, bụm miệng không dám khóc thành tiếng. Tôi nhớ mẹ, nhớ cha, nhớ chị em, nhớ bạn bè, nhớ con sông quê hương, ngôi nhà thân yêu với bao loài hoa thơm trái ngọt vườn nhà…
Sáng hôm sau thức dậy, tôi ngỡ ngàng trước cảnh sắc thiên nhiên vô cùng hùng vĩ. Ngước tầm mắt ra phía xa, tôi nhận thấy đó chính là con đường chúng tôi sắp phải đi qua mà mọi dấu hiệu đều cho thấy sẽ đầy máu lửa, đạn bom và thử thách khắc nghiệt”. Đó chính là những lời tâm sự rất chân thành của cô gái trẻ Hải Ấm lúc đó.
Phạm Thi Hải Ấm đã trải qua những tháng ngày gian lao, nhọc nhằn lại là người có đời sống nội tâm phong phú nên điều gì xảy ra cũng để lại cho chị ấn tượng khó phai mờ. Do vậy, giống như thước phim quay chậm, chị đã lần lượt tái hiện lại tất cả những sự việc đã xảy ra với mình, với đồng đội, với bạn bè và cả những người thân. Bên cạnh những trang viết bằng văn xuôi, tập sách còn có những bài thơ đậm chất trữ tình mà Phạm Thị Hải Ấm khiêm tốn gọi là “Những bài thơ cây nhà lá vườn”. Ở đó đã thể hiện đầy đủ các cung bậc cảm xúc trong mọi ngõ ngách tâm hồn.
Khác với những cuốn tự truyện khác viết về chiến tranh, ở tập sách này Phạm Thị Hải Ấm nhấn mạnh đến “chuyện tình thời hoa lửa”. Ở đó, có lẽ là những tình cảm chân thành, thân thương, gần gũi thậm chí bất ngờ và “kỳ lạ”. Mãi cho đến bây giờ – khi đã có tuổi nhưng Phạm Thị Hải Ấm vẫn không thể nào nguôi quên những tháng ngày nhọc nhằn, gian khó nhưng rất đỗi hào hùng và nghĩa tình đến thế. “Cuộc sống thời chiến lành ít dữ nhiều, nguy hiểm và mất mát có thể ập tới bất cứ lúc nào nhưng cũng có những khoảng lặng rất lãng mạn và nên thơ để những chàng trai cô gái tiền phương thể hiện tình cảm hoặc chỉ đơn giản là cùng nhau làm những công việc bình thường như trong thời bình”.
Tình người là cầu nối nhân duyên đưa chị đến với tình yêu đôi lứa. Như lẽ chim trời cá biển, một sự tình cờ chị và anh Quý quen nhau và yêu nhau. Đám cưới của chị được đơn vị tổ chức vào ngày 29 Tết năm 1971 đơn giản nhưng ấm áp, tràn ngập tình thương yêu. Trước khi đám cưới diễn ra, đợn vị nơi chị đóng quân phải chịu một trận càn lớn, xém chết hụt nhiều người. Để rồi, khi trở lại đất Bắc làm việc (chị về công tác ở Bộ Giáo dục – Đào tạo cho đến lúc nghỉ hưu) nhưng tình cảm đối với miền Nam vẫn luôn canh cánh bên lòng. Những cái tên: Năm Vàng, anh Ba Thơ, anh Sáu Thắng, anh Sáu Thưởng, chị Tám Hà, chị Bảy Huệ, chú Bảy Kim, chú Sáu Tú, Tám Hồng, anh Hoàng Ban (người anh đồng hương Phú Thọ đã tặng vợ chồng chị 1 chỉ vàng trong ngày cưới)… đã ăn sâu vào trong tâm khảm Phạm Thị Hải Ấm. Họ không chỉ là những người đồng chí bình thường mà họ như là những người chị, người anh, người chú ruột thịt, thân tình gần gũi. Thời gian trôi đi, kẻ còn người mất nhưng tình người vẫn còn mãi!



