Câu chuyện về Anh hùng dân tộc Trương Định
Trương Định (Trương Công Định) sinh năm 1820, quê ở làng Tư Cung, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, nay thuộc xã Tịnh Khê, tỉnh Quảng Ngãi. Ông là con của quan Thủy Vệ úy Trương Cầm. Năm 1844, Trương Định theo cha vào Nam và cưới bà Lê Thị Thưởng, con một nhà hào phú ở làng Tân Phước, huyện Tân Hòa. Sau khi cha mất, ông ở lại quê vợ tại Tân Hòa.
Năm 1850, hưởng ứng chính sách khai hoang của triều đình, Trương Định đứng ra chiêu mộ dân nghèo vào khai hoang, lập ấp ở vùng Gò Công. Nhờ có công lao trong việc khai hoang, ông được triều đình phong chức Quản cơ. Đến năm 1854, ông tiếp tục đem tài sản chiêu mộ dân nghèo vùng Quảng Nam – Quảng Ngãi vào khai hoang, lập đồn điền ở Gia Thuận, thuộc huyện Gò Công Đông ngày nay. Trong thời gian này, Trương Định gặp và cưới bà Trần Thị Sanh, người có quan hệ họ hàng với bà Từ Dũ Thái hậu, mẹ vua Tự Đức.
Khi thực dân Pháp mở rộng cuộc xâm lược Nam Kỳ, Trương Định đã đứng lên tổ chức lực lượng chống Pháp. Tháng 4/1861, quân Pháp chiếm thành Định Tường; tháng 11/1861 chiếm thành Biên Hòa và tháng 3/1862 tiến đánh Vĩnh Long. Ngày 5/6/1862, triều đình nhà Nguyễn ký Hòa ước Nhâm Tuất, nhượng ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ là Gia Định, Định Tường và Biên Hòa cho Pháp. Sau đó, triều đình ra lệnh cho Trương Định bãi binh, phong ông làm Lãnh binh An Hà và yêu cầu ông nhận chức mới.
Tuy nhiên, nhân dân và nghĩa quân không muốn ông rời bỏ cuộc kháng chiến. Trong lúc đứng trước sự lựa chọn giữa lệnh triều đình và nguyện vọng của nhân dân, Trương Định nhận được thư của các nghĩa hào huyện Tân Long (Chợ Lớn), đề nghị ông tiếp tục lãnh đạo nghĩa quân chống Pháp. Cảm kích trước sự tín nhiệm của nhân dân và những người yêu nước, ông khước từ lệnh triều đình, tiếp tục ở lại lãnh đạo nghĩa quân và được nhân dân suy tôn là “Bình Tây Đại Nguyên Soái”.
Năm 1863, trước sức tấn công mạnh của quân Pháp, Trương Định rút khỏi căn cứ Tân Hòa và chuyển lực lượng về Lý Nhơn, một vùng có địa hình sông nước, rừng dừa nước hiểm trở, thuộc khu vực Cần Giờ ngày nay. Tại đây, ông tiếp tục củng cố lực lượng, chuẩn bị lương thực và tổ chức kháng chiến. Ngày 25/9/1863, quân Pháp bất ngờ tấn công căn cứ Lý Nhơn. Nghĩa quân chống trả rồi rút về Gò Công, xây dựng lại căn cứ tại khu vực “Đám lá tối trời” ở Gia Thuận.
Sau khi trở về Đám lá tối trời, Trương Định tiếp tục xây dựng lực lượng và kêu gọi các sĩ phu, nhân dân yêu nước góp sức, hiến kế đánh giặc. Hưởng ứng lời hiệu triệu của ông, phong trào kháng chiến tiếp tục lan rộng ở Mỹ Tho, Tân An, Gò Công, Cần Giuộc, Chợ Lớn và các vùng giáp ranh Biên Hòa. Quân Pháp vì thế càng ráo riết truy tìm và tiêu diệt ông.
Đêm 19 rạng sáng 20/8/1864, Huỳnh Công Tấn dẫn quân bao vây nơi Trương Định đang ở tại khu vực Đám lá tối trời. Trương Định cùng nghĩa quân chiến đấu chống trả quyết liệt. Trong cuộc chiến đấu, ông bị trọng thương. Không muốn rơi vào tay quân Pháp, Trương Định đã tuẫn tiết vào rạng sáng ngày 20/8/1864, khi mới 44 tuổi.
Sau khi Trương Định mất, nhân dân và gia đình đã an táng ông tại Gò Công. Mộ và đền thờ Trương Định ở Gò Công được nhân dân gìn giữ, tu bổ qua nhiều thời kỳ. Hằng năm, nơi đây tổ chức các hoạt động tưởng niệm nhằm ghi nhớ công lao của người anh hùng đã lãnh đạo nhân dân Nam Bộ chống thực dân Pháp.
Ngoài mộ và đền thờ tại Gò Công, nhân dân còn lập đền thờ Trương Định tại Gia Thuận, huyện Gò Công Đông, nơi gắn với căn cứ Đám lá tối trời và quá trình hoạt động chống Pháp của ông.
Trương Định là một trong những thủ lĩnh tiêu biểu của phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Kỳ trong những năm 1859–1864. Hình ảnh ông gắn liền với tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường và sự gắn bó với nhân dân trong cuộc đấu tranh chống quân xâm lược.



