CÂU HỎI CUỐI CÙNG BÊN DỐC CHUỐI
Câu chuyện về Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, liệt sĩ Tô Vĩnh Diện.
Rạng sáng ngày 1 tháng 2 năm 1954.
Trên một con dốc hẹp giữa núi rừng Điện Biên, hàng chục người lính đang ghì chặt những sợi dây kéo một khẩu pháo cao xạ nặng hơn hai tấn xuống dốc.
Không ánh đèn.
Một bên là vách núi.
Một bên là vực sâu.
Phía xa, pháo của quân Pháp từ lòng chảo Mường Thanh vẫn thỉnh thoảng bắn lên những tuyến đường mà chúng nghi có bộ đội Việt Minh đang di chuyển.
Bất ngờ—
Dây tời bị đứt.
Khẩu pháo khổng lồ bắt đầu lao xuống dốc.
Những người lính phía trước bị kéo lê. Một pháo thủ bị càng pháo hất xuống vực. Những hòn chèn được lao vào bánh xe nhưng không giữ nổi khối thép đang trượt ngày càng nhanh.
Phía cuối con dốc là vực sâu.
Nếu khẩu pháo rơi xuống đó, tất cả công sức đưa nó vượt hàng trăm cây số đến Điện Biên sẽ mất trong vài giây.
Ngay bên càng pháo lúc ấy có một người lính tên Tô Vĩnh Diện.
Anh ghì lấy càng pháo, cố sức hướng nó vào vách núi.
Khẩu pháo chao mạnh.
Rồi bánh pháo đè lên người anh.
Khối thép dừng lại.
Giữa những đồng đội đang cuống quýt tìm cách đưa anh ra, người lính bị thương nặng chỉ còn đủ sức hỏi một câu:
“Pháo có sao không?”
Đó là một trong những câu nói cuối cùng của Tô Vĩnh Diện.
Người thanh niên nghèo xứ Thanh
Tô Vĩnh Diện sinh năm 1924, quê ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
Gia đình nghèo, từ khi mới tám tuổi, anh đã phải đi ở cho địa chủ. Cuộc sống ấy kéo dài nhiều năm cho đến khi Cách mạng Tháng Tám thành công.
Năm 1946, Tô Vĩnh Diện tham gia dân quân tại quê nhà.
Ba năm sau, năm 1949, anh xung phong vào bộ đội.
Trong quân ngũ, người thanh niên xứ Thanh được đồng đội biết đến là người chịu khó, gương mẫu, thường nhận những phần việc khó khăn và nặng nhọc.
Tháng 5/1953, khi quân đội ta xây dựng những đơn vị pháo cao xạ để chuẩn bị cho những chiến dịch lớn, Tô Vĩnh Diện được điều về đơn vị pháo cao xạ 37mm, Đại đội 827, Tiểu đoàn 394, Trung đoàn 367.
Đến Chiến dịch Điện Biên Phủ, anh trở thành khẩu đội trưởng pháo cao xạ.
Những khẩu pháo mà họ được giao là thứ vũ khí đặc biệt quý giá vào thời điểm ấy.
Và trước khi có thể bắn một viên đạn vào quân Pháp, những người lính phải giải quyết một bài toán tưởng như không thể:
Đưa những khẩu pháo nặng hàng tấn vượt qua núi cao, vực sâu vào trận địa Điện Biên.
100 người kéo một khẩu pháo
Đường vào trận địa không phải con đường dành cho xe cơ giới.
Đó là những con đường được mở xuyên rừng, men theo sườn núi, có nơi bên núi cao, bên vực thẳm.
Mỗi khẩu pháo cao xạ nặng khoảng 2,4 tấn.
Theo lời kể của cựu chiến binh Phạm Đức Cư, người từng thuộc Tiểu đoàn 394, để di chuyển một khẩu pháo phải cần khoảng 80 đến 100 người.
Ban ngày phải giữ bí mật.
Phần lớn việc kéo pháo diễn ra trong đêm.
Không được bật đèn.
Hai người khoác những mảnh dù trắng đi phía trước để làm dấu. Gặp bãi lầy, bộ đội chặt cây, lấy đá lót đường. Hàng chục người phía trước căng mình kéo dây; những pháo thủ hai bên giữ càng, điều chỉnh hướng và luôn chuẩn bị chèn bánh.
Có những đêm, sau nhiều giờ vật lộn, một khẩu pháo chỉ tiến được hơn một cây số.
Giày dép rách.
Bàn chân trần bám xuống đất.
Tay kéo dây bật máu.
Quần áo hòa lẫn mồ hôi và bùn đất.
Gần mười đêm như thế, những khẩu pháo cuối cùng cũng được đưa vào trận địa.
Tưởng rằng nhiệm vụ khó khăn nhất đã hoàn thành.
Nhưng rồi một mệnh lệnh mới được truyền xuống.
Kéo pháo ra.
Mệnh lệnh khiến những người lính bàng hoàng
Ban đầu, ta dự kiến tiến công Điện Biên Phủ theo phương châm “đánh nhanh”.
Nhưng trước những thay đổi của tình hình chiến trường, Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định chuyển sang phương châm “đánh chắc, tiến chắc”.
Những khẩu pháo đã mất nhiều ngày đêm đưa vào trận địa phải được kéo trở ra để bố trí lại.
Cựu chiến binh Phạm Đức Cư kể rằng khi nhận được lệnh, nhiều người gần như bàng hoàng.
Không phải vì họ không chấp hành.
Mà bởi họ biết rõ phía trước là điều gì.
Kéo pháo vào đã vô cùng gian khổ.
Kéo pháo ra còn nguy hiểm hơn.
Đường đã bị lộ ở nhiều nơi.
Người lính gần như kiệt sức vì nhiều ngày thiếu ngủ.
Và lần này, những khẩu pháo nặng hàng tấn phải được ghìm xuống những con dốc mà chỉ cần một sợi dây đứt cũng có thể biến chúng thành những khối thép lao thẳng xuống vực.
Nhưng mệnh lệnh là mệnh lệnh.
Những sợi dây lại được buộc vào pháo.
Những đôi vai lại cúi xuống.
Tô Vĩnh Diện cùng đồng đội bắt đầu hành trình đưa pháo trở ra.
Dốc Chuối
Rạng sáng ngày 1/2/1954, Đại đội 827 đưa pháo đến khu vực thường được những người lính gọi là Dốc Chuối, gần Bản Chuối.
Con đường hẹp và dốc.
Tô Vĩnh Diện cùng một pháo thủ khác ở phía trước, phụ trách càng pháo để điều chỉnh hướng.
Phía sau, hàng chục chiến sĩ ghìm dây tời.
Đúng lúc ấy, pháo của quân Pháp từ Mường Thanh bắn tới.
Các chiến sĩ kéo giữ pháo phải nằm rạp xuống tránh đạn.
Rồi sự cố xảy ra.
Một dây tời bị đứt.
Khẩu pháo mất lực giữ và bắt đầu lao xuống.
Các chiến sĩ cố ghìm.
Không được.
Những hòn chèn được ném vào dưới bánh xe.
Khẩu pháo vẫn trượt.
Pháo thủ Lê Văn Chi bị càng pháo hất xuống vực.
Một người khác bị hất vào vách núi.
Cỗ pháo nặng hơn hai tấn càng xuống dốc càng tăng tốc.
Phía trước nó lúc này chỉ còn Tô Vĩnh Diện.
Chỉ còn vài giây
Không có thời gian để bàn bạc.
Không có thời gian chờ người khác chạy đến.
Tô Vĩnh Diện ghì lấy càng pháo.
Anh dùng toàn bộ sức lực cố hướng khẩu pháo vào phía vách núi, hy vọng ma sát và địa hình có thể ngăn nó trước khi lao tới khúc cua dẫn xuống vực sâu.
Khẩu pháo khựng lại.
Nhưng chỉ trong chốc lát.
Rồi nó tiếp tục lao xuống.
Những người lính phía sau vẫn cố chạy theo.
Tô Vĩnh Diện vẫn không buông càng pháo.
Theo tư liệu của Báo Quân đội nhân dân, giữa thời khắc ấy anh đã hô:
“Chết không rời pháo!”
Anh đạp chân vào vách núi, dùng sức đẩy càng pháo về phía taluy.
Khối thép khổng lồ quật mạnh.
Tô Vĩnh Diện ngã xuống.
Bánh pháo đè lên người anh.
Nhưng lần này—
khẩu pháo dừng lại.
Nó không rơi xuống vực.
Đồng đội lập tức lao tới chèn bánh, giữ pháo rồi tìm cách đưa người khẩu đội trưởng ra ngoài.
Tô Vĩnh Diện đã bị thương quá nặng.
Trong những giây phút cuối cùng, điều anh hỏi không phải mình bị thương thế nào.
Không hỏi liệu mình có sống được hay không.
Anh nhìn những người đồng đội và hỏi:
“Pháo có sao không?”
Khẩu pháo vẫn còn.
Người giữ nó thì không.
Tô Vĩnh Diện hy sinh bên Dốc Chuối khi tuổi đời chưa đầy ba mươi.
Một nấm mộ không hương khói
Chiến dịch Điện Biên Phủ khi ấy còn chưa chính thức mở màn.
Con đường kéo pháo phải được tuyệt đối giữ bí mật.
Vì vậy, tang lễ của người khẩu đội trưởng được tổ chức lặng lẽ giữa rừng.
Cựu chiến binh Phạm Đức Cư sau này nhớ lại rằng hôm ấy không thể thắp hương trên mộ và cũng không có loạt súng vĩnh biệt, bởi bất kỳ dấu hiệu bất thường nào cũng có thể khiến đối phương phát hiện tuyến đường bí mật của bộ đội ta.
Những người đồng đội chôn cất anh rồi lại trở về với những sợi dây kéo pháo.
Chiến dịch vẫn còn ở phía trước.
Những khẩu pháo vẫn phải tiếp tục được đưa về vị trí mới.
Ngày 13/3/1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ chính thức mở màn.
Tô Vĩnh Diện không còn có mặt bên khẩu pháo của mình.
Nhưng những người đồng đội của anh vẫn chiến đấu.
Khẩu pháo cao xạ 37mm gắn với Đại đội 827 sau đó cùng đơn vị tham gia chiến đấu tại Điện Biên Phủ. Khẩu pháo số hiệu 510681 hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Phòng không-Không quân và đã được công nhận là Bảo vật quốc gia.
Pháo có sao không?
Ngày 7/5/1954, lá cờ “Quyết chiến - Quyết thắng” tung bay trên nóc hầm chỉ huy của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Chiến dịch kết thúc.
Nhưng Tô Vĩnh Diện đã nằm lại từ hơn ba tháng trước.
Anh không được nhìn thấy ngày chiến thắng.
Không được nghe tiếng reo của đồng đội chiều 7 tháng 5.
Không được trở về quê nhà Thanh Hóa sau những năm chiến đấu.
Điều còn lại về anh, bên cạnh một chiến công, là một câu hỏi rất ngắn:
“Pháo có sao không?”
Bốn chữ ấy có lẽ nói được nhiều hơn bất kỳ lời ca ngợi nào.
Bởi trong thời khắc giữa sự sống và cái chết, điều người chiến sĩ ấy nghĩ tới trước tiên vẫn là thứ vũ khí mà đơn vị đã giao cho mình bảo vệ.
Một khẩu pháo vào thời điểm ấy không đơn thuần là vài tấn sắt thép.
Để nó có mặt ở Điện Biên là công sức của những người đã vận chuyển nó từ hậu phương, của những người lái xe trên hàng trăm cây số, của hàng chục chiến sĩ dùng tay kéo nó qua từng con dốc và của cả một đất nước đang dành những gì mình có cho trận quyết chiến.
Tô Vĩnh Diện hiểu điều đó.
Và khi khẩu pháo sắp lao xuống vực, anh chỉ có vài giây để lựa chọn.
Anh đã chọn giữ lấy khẩu pháo.
Hơn bảy mươi năm sau, con đường kéo pháo năm xưa đã trở thành một địa chỉ lịch sử.
Những người lính trẻ hôm nay không còn phải dùng tay kéo những khẩu pháo nặng hàng tấn qua núi rừng Điện Biên.
Nhưng câu hỏi cuối cùng bên Dốc Chuối vẫn còn được nhắc lại.
“Pháo có sao không?”
Một câu hỏi rất ngắn.
Nhưng phía sau nó là trách nhiệm của một người lính, là tình yêu dành cho đồng đội và là sự hy sinh của một thế hệ đã đặt nhiệm vụ của Tổ quốc cao hơn chính mạng sống của mình.
Tô Vĩnh Diện đã nằm lại trước ngày Điện Biên toàn thắng.
Nhưng khẩu pháo được giữ lại.
Đồng đội tiếp tục chiến đấu.
Và mùa xuân năm ấy, từ những con đường đầy bùn đất và máu của người kéo pháo, cả dân tộc đã đi đến ngày 7 tháng 5 năm 1954.
Nguồn tư liệu: Báo Quân đội nhân dân; Chuyên san Sự kiện và Nhân chứng – Báo Quân đội nhân dân; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.



