CCB Trần Phong
"Hai tiểu đội Ninh Bình và một tiểu đội Hà Tây được giao nhiệm vụ lái đò và bảo vệ bến đò Cà Ná trên sông Ba Lòng, nằm giữa cứ điểm 241 và cứ điểm Đầu Mầu. Hằng đêm, hàng chục tấn hàng hóa và nhiều đoàn cán bộ, chiến sĩ vượt sông trên những chiếc đò độc mộc chỉ chở được 6 - 7 người, giữa dòng nước xiết và đá ngầm", ông Phong nhớ lại. Ban đầu, mỗi đội viên chỉ gùi được 20 - 24 kg mỗi chuyến. Sau đó, bằng ý chí và rèn luyện, họ nâng lên 40 - 46 kg/chuyến, thậm chí nhiều người đạt năng suất 26 - 28 ngày công/tháng.
Đến cuối năm 1966 - đầu 1967, trước nhu cầu vận chuyển ngày càng lớn, các đội viên K53 đề xuất phối hợp với Đoàn vận tải Bắc Sơn (chủ yếu là chiến sĩ đồng bào dân tộc Tà Ôi, Vân Kiều) và Tiểu đoàn 8 của Quân khu 4. Sự kết hợp này đã hình thành tuyến đường Bắc Sơn, kéo dài từ nam Bến Hải đến bắc Hải Vân - tuyến huyết mạch chi viện cho chiến trường. Đặc biệt, nhờ sự phối hợp giữa K53 và cán bộ, du kích địa phương, một con đò lớn có thể chở cả trung đội qua sông đã ra đời, tồn tại cho đến khi Hiệp định Paris được ký kết năm 1973.
K53 trở thành lực lượng nòng cốt trong công tác vận tải và giao liên trên các tuyến đường mới do Quân khu Trị - Thiên - Huế mở rộng, kết nối với đường dây 559 và các nhánh đường ngang xuống đồng bằng, chi viện cho bộ đội địa phương.



