Bài viết

Chi đoàn thôn Thanh Hòa (429)

Ký ức 81 ngày đêm

Hà Tĩnh09/05/2026Phan Tiến Phương4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng ký ức về 81 ngày đêm của “mùa hè đỏ lửa” năm 1972 ở Thành cổ Quảng Trị vẫn mãi hằn sâu trong tâm trí những người lính Hà Tĩnh.Năm 1971, cuộc kháng chiến chống Mỹ của quân và dân ta bước vào giai đoạn mới. Ngày 23/3/1972, Bộ Chính trị phê chuẩn kế hoạch cuộc tiến công chiến lược, chọn Trị - Thiên làm hướng chủ yếu, cùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên phối hợp.Bằng đòn tiến công ấy, ta đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị, tạo nên một đòn giáng mạnh, buộc Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải lúng túng đối phó.Với mục tiêu bằng mọi giá, tái chiếm Quảng Trị để cân bằng thế trận, từ 28/6/1972, địch huy động lực lượng hùng hậu mở cuộc phản công ác liệt. Trước thử thách sinh tử ấy, quân và dân ta bước vào 81 ngày đêm giữ thị xã và Thành cổ Quảng Trị - một trong những cuộc đọ sức quyết liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ.Cùng với hàng vạn chiến sỹ cả nước, đầu năm 1972, ông Nguyễn Như Hoành (SN 1953, quê ở xã Cẩm Vịnh, huyện Cẩm Xuyên cũ - nay là xã Cẩm Bình, hiện trú tại TDP Tây Yên, phường Thành Sen) và ông Nguyễn Thanh Tân (SN 1953, quê xã Thạch Tân, huyện Thạch Hà cũ - nay là phường Hà Huy Tập, hiện trú tại TDP 3, phường Hà Huy Tập) lên đường vào chiến trường Quảng Trị tham gia chiến đấu.Đầu tháng 7/1972, chỉ chưa đầy 2 tháng huấn luyện quân sự “thần tốc” tại xã Kỳ Thượng (huyện Kỳ Anh cũ), ông Hoành được biên chế vào Trung đoàn 18 - Sư đoàn 325 (tiền thân của Quân đoàn 2), hành quân vào Quảng Trị. Đơn vị của ông đến khu vực Ngã ba Sòng (phía Bắc thị xã Đông Hà, Quảng Trị) vào giữa tháng 7/1972. Cảnh tượng hoang tàn, đổ nát báo hiệu một cuộc chiến sinh tử, khốc liệt.“Chỉ cách sông Thạch Hãn 20km mà phải mất 3 ngày 3 đêm chúng tôi mới đến được bờ sông vì địch điên cuồng đánh chặn. Khi đang kết bè vượt sông thì đơn vị của tôi bị địch phát hiện, tập kích, đồng chí tiểu đoàn trưởng, chính trị viên cùng nhiều chiến sỹ hy sinh ngay khi chưa kịp bắt đầu trận đánh chính thức. Chúng tôi khi ấy mới mười chín, đôi mươi, gần như chưa có kinh nghiệm chiến trận nhưng tất cả đều động viên nhau giữ vững tinh thần, tiếp tục tiến lên…” - ông Hoành nhớ lại.Những bức ảnh chụp vội nơi chiến trường được các 2 ông cất giữ cẩn thận.Mỗi ngày, địch đánh 7 - 8 trận, bằng những loại vũ khí tối tân, hiện đại nhất. “Anh em chiến sỹ bám vào từng bờ tường, từng ụ gạch để chiến đấu. Người trước ngã xuống, người sau tiến lên. Có đồng chí quê miền Bắc vừa hy sinh thì 5 ngày sau, em trai ruột cũng ngã xuống trong Thành cổ. Có những khi xuồng cứu thương vừa chở thương binh ra giữa sông đã bị bom đánh chìm, cả thương binh lẫn người cứu thương đều hy sinh, chúng tôi đứng bên thành cổ nhìn sang mà ruột gan quặn thắt” - ông Hoành nghẹn ngào.Hiểm nguy vì bom đạn, đời sống sinh hoạt cũng thiếu thốn, gian khổ vô cùng. Vì phải bỏ lại ba-lô, chỉ mang vũ khí vào thành nên một bộ quân phục mặc suốt mấy tháng. Bom đạn khiến quần áo rách tả tơi; bùn đất, khói súng phủ kín mặt người.Nguồn nước ô nhiễm nặng; lượng thuốc khử khuẩn được cấp phát không đủ dùng nên nhiều khi, các chiến sỹ đành uống nước bẩn. Lương khô và gạo sấy là những loại lương thực chủ yếu tiếp sức cho cán bộ, chiến sỹ trong những ngày tháng gian khổ đó.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn