Người có công giúp đỡ cách mạng

Chị Hai Riêng

Những dòng cuối cùng trong cuốn nhật ký của mình, Anh hùng LLVT nhân dân “Hai Riêng” viết: “Tôi sẽ chiến đấu cho hạnh phúc không tan, cho con sớm gần mẹ, cho người người không còn tang tóc chia ly…”...

Hải Phòng31/03/2026sưu tầm (Chi đoàn Tổ dân phố Hà Nhuận 2)5 lượt xem0 lượt chia sẻ

Những dòng cuối cùng trong cuốn nhật ký của mình, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân “Hai Riêng” (tên thật là Lê Thị Riêng, nguyên Trưởng ban Phụ vận Khu Sài Gòn-Gia Định, Phó hội trưởng Ban chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Giải phóng, ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam) viết: “Tôi sẽ chiến đấu cho hạnh phúc không tan, cho con sớm gần mẹ, cho người người không còn tang tóc chia ly…”.

Chiến đấu để không còn tang tóc chia ly...

Bà sinh năm 1925, trong một gia đình nông dân nghèo tại xã Vĩnh Mỹ, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. 16 tuổi, bà đã được giác ngộ cách mạng và trở thành chiến sĩ cách mạng với tên “Hai Riêng”. Tháng Tám năm 1945, Việt Minh nổi dậy, thị xã Rạch Giá, cờ đỏ rợp trời, người dân nô nức kéo nhau đi cướp chính quyền. Trong dòng người đó có bà. Bà đã trưởng thành trong phong trào phụ nữ của miền Nam, được bầu là Phó hội trưởng Hội Phụ nữ Cứu quốc miền Đông những năm 50.

Năm 1954, ông, bà thành hôn ở chiến khu Đ. Lễ cưới có mặt đông đủ các đồng chí lãnh đạo trong phân khu và bạn bè. Cuối năm 1961, sau đợt đi công tác dài ngày, bà trở lại khu rừng cũ nơi đã chia tay với chồng. Đến nơi, bà nhận được câu trả lời của đơn vị “Anh ấy đi công tác chưa về”. Bà nhẫn nại đợi. Một ngày chờ như thể mấy năm, bà càng đợi, càng biệt tăm. Biết không thể giấu được, đơn vị đành báo tin ông đã hy sinh…

Với nỗi niềm ấy, bà đã đau đớn viết vào cuốn nhật ký: “Ngày 28 tháng 10 năm 1960, vợ chồng tôi chia tay nhau và cũng là ngày cuối cùng chúng tôi xa nhau mãi mãi.

Chúng tôi đã nhiều lần hợp tan như thế nhưng chuyến đi này tôi cảm thấy quyến luyến xót xa vì mới xa con lại phải xa chồng…

Sáu tháng sau, sau khi đi công tác trở về khu rừng cũ, tôi nuôi hy vọng đầu tiên là sẽ gặp chồng. Đến nơi, tôi được biết anh đi công tác chưa về… Phải kéo dài thời gian chờ đợi, cứ thế mà mỗi ngày một biền biệt xa. Ai đã trải qua tất sẽ thông cảm đầy đủ tình cảnh lo sợ, nhớ mong của vợ đối với chồng của tôi lúc bấy giờ.

Mãi tới ngày 29-4-1961, được các đồng chí cấp ủy mời đến, câu nói đầu tiên của các anh mà tôi bắt buộc phải nghe, mãi đến nay, mỗi khi nhớ đến tôi còn thấm sợ: “Xin báo cáo chị một tin buồn, anh ấy đã hy sinh”. Tôi phải nhắm mắt lại để tránh một sự thật đau thương, mong rằng tất cả những người đàn bà trên thế gian này, không ai phải nghe câu nói ấy đến với mình”.

Sau những ngày hốt hoảng, tôi nghe các đồng chí thuật lại rằng: “Đêm 4-12-1960, nhằm đêm rằm tháng 11-1960, trên đường công tác, không may anh bị phục kích, chống cự đến viên đạn cuối cùng và cũng đêm ấy anh không bao giờ trở lại với vợ con”.

Xóm mộ Đông Yên, xã Đông Hòa (Dĩ An) là nơi an nghỉ cuối cùng. Khi ngồi viết những dòng này tôi vẫn chưa tìm đến được nắm đất thân yêu, nơi chồng tôi gửi xác.

Bảy năm trời chung sống, từ ngày 3-5-1954, đến tháng 4 năm 1960, bao tình sâu nghĩa nặng của vợ chồng tôi đã kết thúc trên đời. Còn lại hai con đang sống xa mẹ. Chúng là nguồn hạnh phúc, là sức mạnh chiến đấu giúp tôi hăng hái đi lên không bao giờ chùn bước. Tôi sẽ chiến đấu cho hạnh phúc không tan, cho con sớm gần mẹ, cho người người không còn tang tóc chia ly…”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn