Chị Út Tịch
Chị Út Tịch: “Còn cái lai quần cũng đánh”
Nữ anh hùng Nguyễn Thị Út (Út Tịch), sinh năm 1920 tại xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè, Trà Vinh. Chị nuôi dưỡng 6 con nhỏ nhưng vẫn tham gia đánh giặc giữ làng, làm nòng cốt trong đấu tranh chính trị ở địa phương, là người có câu nói nổi tiếng trong kháng chiến chống Mỹ “Còn cái lai quần cũng đánh”. Chị là nguyên mẫu nhân vật chính trong tác phẩm “Người mẹ cầm súng” của nhà văn Nguyễn Thi.
Là con thứ 3 và cũng là con út trong gia đình. Do nhà nghèo, chị phải đi ở đợ từ nhỏ, bị chủ đối xử tàn bạo, bị bóc lột… Trong 3 chị em, chị là có tính khí phản kháng nhất, cứng cỏi và gan dạ nhất nhiều lúc đánh trả lại với gia đình địa chủ.
Năm 13 tuổi, được sự ủng hộ của các cán bộ Việt Minh, chị được chuộc ra khỏi nhà địa chủ, thoát khỏi cảnh nô lệ, là người có tính khí mạnh mẽ, chị sớm chịu ảnh hưởng từ sự tuyên truyền về cuộc cách mạng của các cán bộ Việt Minh, từ đó tích cực ủng hộ những người Cộng sản cho đến sau này.
Khi người Pháp tái chiến Nam bộ, chị xung phong tham gia chiến đấu và lập nhiều chiến công vẻ vang. Chị trở thành người giao liên, liên lạc cho các cán bộ quân sự.
Chị Út đến với cách mạng, với kháng chiến thật đơn giản, như câu nói của chị “nó đánh mình, mình đánh nó…”. Bên trong câu nói đơn giản đó là thể hiện ý thức giai cấp rạch ròi, một ý chí chiến đấu không ngoan nhượng trước kẻ thù của chính chị, gia đình và quê hương chị. Chị dấn thân vào hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược với lòng đầy nhiệt tình, không sợ gian khổ, hy sinh.
Tháng 12/1949, quân ta mở chiến dịch Cầu Kè, chị Út Tịch đảm trách công tác giao liên, trinh sát của tổ chức Công an xung phong do ông Chín Luông chỉ huy. Chị theo dõi, nắm vững tình hình địch, báo tin kịp thời với lực lượng quân sự địa phương và bộ đội chủ lực để phối hợp tác chiến (trận Rạch Cách, trận bót Bến Cát) gây nhiều tổn thất cho địch.
Đầu năm 1950, Nguyễn Thị Út xây dựng gia đình với Lâm Văn Tịch (người Việt gốc Khmer) cũng là chiến sĩ trong lực lượng vũ trang địa phương. Sau Hiệp định đình chiến năm 1954, vợ chồng chị được phân công ở lại, hoạt động hợp pháp. Chính quyền ngụy Sài Gòn không tôn trọng Hiệp định, ra sức bắt bớ, đàn áp, trả thù những người kháng chiến cũ. Trong số người bị bắt, có anh Tịch - chồng chị. Chính chị đã trực diện đấu tranh với Quận trưởng Cầu Kè, đòi thả anh Tịch và những đồng chí khác cùng bị bắt, chống lệnh bắt dân xây dựng khu trù mật.
Mãi đến cuối năm 1959, gia đình chị trở về Tam Ngãi. Sau phong trào Đồng Khởi, hai vợ chồng chị đều tham gia hoạt động quân sự của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Vợ chồng chị sinh được 9 người con, mất 3 người trong kháng chiến chống Mỹ.
“Còn cái lai quần cũng đánh”
Điều đặc biệt ở chị cứ mỗi lần sinh được ít ngày, chị Út lại cầm súng ra trận, chiến đấu hết mình. Ngay cả khi mang thai chị vẫn tích cực tham gia hoạt động binh vận, du kích, tham gia đánh nhiều trận, tuyên truyền vận động nhiều binh lính bỏ ngũ và mang về những chiến công lừng lẫy. Ngay cả khi mang thai chị vẫn tích cực tham gia hoạt động binh vận, du kích, tham gia đánh nhiều trận: “Nòng súng đợi chờ, canh khuya sương rỏ/ Mẹ quờ tay ngỡ nước mắt của con/ Giặc đang ngủ. Lay chúng dậy, bay không có quyền ngủ/ Trong món nợ mẹ đòi có tiếng khóc thơ non”.
Cả gia đình nhà chị Út Tịch sôi nổi và hào hứng với cách mạng chứ không chỉ riêng gì chị, chị quan niệm: “Đi làm cách mạng là cái công việc mà nếu phải ngừng lại một lúc nào đó thì cả hai vợ chồng sẽ cảm thấy le loi, trơ trọi, buồn khổ không biết chừng nào”. Cho nên đã đánh giặc thì phải “đánh cho còn cái lai quần cũng đánh”. Không những vậy chị còn tập cho các con lối sống phù hợp với hoàn cảnh kháng chiến.
Năm 1964, chị được kết nạp Đảng. Năm 1965, chị được cử đi dự Đại hội anh hùng Chiến sĩ thi đua lực lượng vũ trang toàn miền Nam và được bầu là nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, được Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương giải phóng hạng Nhì với thành tích: “Đã tham gia 23 trận lớn nhỏ (có 8 trận thời kháng chiến chống Pháp) góp phần quan trọng cùng đơn vị diệt và làm tan rã trên 200 giặc, thu 70 súng. Đồng chí là một chiến sĩ trinh sát dũng cảm và mưu trí, một chiến đấu viên ngoan cường, một chiến sĩ binh vận tài tình đã vận động phá vỡ nhiều binh sĩ địch, nhiều lần đưa bộ đội vào diệt bót lấy súng không tốn một viên đạn”.
Tháng 11/1968, chị Út Tịch nghỉ công tác để sinh bé út (Lâm Thị Xuân Hồng), anh Tịch cắt phép qua thăm, cả nhà sum vầy chỉ còn thiếu mỗi Mỹ Thanh vẫn ở lại Tam Ngãi. Nhưng buổi sáng đó, khi bé Ba đang luộc hành cho má ăn dưỡng sinh, anh Tịch đang hâm lại cá kho cho bữa sáng của đàn con thì loạt bom B-52 cắt ngay giữa chòi. Chị Út Tịch và người con gái thứ ba hy sinh ngay trong loạt bom đầu tiên đó. Ngày 14/5/1974, trong một trận chiến đấu chồng chị (đồng chí Lâm Văn Tịch) cũng đã anh dũng hy sinh.
Sự hy sinh cao cả, tình yêu gia đình, tình yêu đất nước của chị cũng như gia đình chị mà tên tuổi chị luôn được đồng bào Tam Ngãi rất mực yêu thương. Chị Út Tịch - một tấm gương tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam giỏi việc nước, đảm việc nhà thật xứng đáng với tám chữ vàng: “Anh hùng - Bất khuất - Trung hậu - Đảm đang”./.


