Chiếc khăn len ở đảo chìm
Trong những năm đầu bảo vệ chủ quyền biển đảo nơi Trường Sa, cuộc sống của các chiến sĩ trên đảo chìm vô cùng gian khổ giữa sóng lớn và thiếu thốn đủ bề. Câu chuyện của ông Nguyễn Văn Cảnh kể về một chiếc khăn len giản dị đã mang theo hơi ấm đất liền đến giữa biển khơi thời hoa lửa.
Năm 1987, Nguyễn Văn Cảnh hai mươi hai tuổi, là chiến sĩ hải quân công tác tại một đảo chìm ở quần đảo Trường Sa.
Ngày ấy, điều kiện sinh hoạt trên đảo còn rất thiếu thốn.
Nhà ở chỉ là những công sự tạm bằng gỗ và bao cát dựng giữa sóng gió.
Mùa biển động, nước mặn tạt trắng cả chỗ ngủ.
Có những đêm sóng lớn đánh rung cả nền đảo.
Xa đất liền hàng trăm hải lý, thứ khiến người lính nhớ nhất thường là những điều rất nhỏ từ quê nhà.
Trước ngày xuống tàu ra đảo, mẹ của Cảnh đã thức nhiều đêm đan cho con trai một chiếc khăn len màu xám.
Dù ra biển nóng, bà vẫn bảo:
“Đêm ngoài đó chắc lạnh lắm.”
Cảnh mang chiếc khăn theo như một món quà quý.
Những hôm trực gác đêm giữa gió biển, anh thường quàng khăn kín cổ để đỡ lạnh.
Mùi len cũ khiến anh nhớ căn nhà nhỏ và giọng mẹ nơi quê xa.
Đầu năm 1988, biển động liên tục nhiều ngày.
Tàu tiếp tế không thể cập đảo đúng lịch.
Lương thực và nước ngọt đều phải tiết kiệm tối đa.
Đêm nào anh em cũng thay nhau trực canh giữa gió mạnh và sóng cao.
Một tối, sau ca trực khuya, Cảnh phát hiện một đồng đội trẻ tên Hòa đang sốt rét run người nhưng vẫn cố đứng gác.
Hòa quê tận miền Bắc, mới ra đảo chưa lâu nên chưa quen thời tiết khắc nghiệt ngoài biển.
Gió đêm thổi mạnh đến buốt da.
Nhìn đồng đội môi tím tái vì lạnh, Nguyễn Văn Cảnh không ngần ngại tháo chiếc khăn len mẹ đan quàng sang cho bạn.
Hòa vội từ chối vì biết đó là kỷ vật gia đình rất quý.
Nhưng Cảnh chỉ cười:
“Khăn còn thì gửi về được, chứ người bệnh thì nguy hiểm lắm.”
Đêm ấy, hai người lính đứng tựa lưng vào công sự chắn sóng giữa biển đen mịt mùng.
Chiếc khăn len cũ được chuyền qua chuyền lại giữa những ca gác lạnh buốt.
Vài ngày sau, Hòa đỡ sốt.
Trước khi trả lại khăn, anh lặng lẽ giặt sạch rồi gấp thật cẩn thận đặt cạnh ba lô của Cảnh.
Kèm theo đó là mẩu giấy nhỏ viết nguệch ngoạc:
“Cảm ơn hơi ấm từ đất liền.”
Nguyễn Văn Cảnh đọc xong chỉ im lặng rất lâu.
Sau này, trong một trận sóng lớn, chiếc khăn len bị nước biển cuốn mất khi anh em đang gia cố công sự giữa đêm.
Cảnh tiếc lắm nhưng không trách điều gì.
Anh nói với đồng đội:
“Khăn mất ngoài biển… chắc mẹ cũng hiểu.”
Sau thời gian công tác ở Trường Sa, Nguyễn Văn Cảnh trở về đất liền tiếp tục phục vụ trong quân đội nhiều năm.
Mỗi lần nhắc về quãng đời ngoài đảo chìm, ông không kể nhiều về khó khăn hay bão tố.
Điều ông nhớ nhất lại là chiếc khăn len đã từng giữ ấm cho những người lính trẻ giữa biển khơi.
Nhiều năm sau, khi mẹ hỏi chiếc khăn đâu rồi, ông chỉ nhẹ nhàng đáp:
“Nó vẫn ở ngoài đảo… với đồng đội con.”
Ngày nay, Trường Sa đã có thêm nhiều công trình kiên cố và đời sống tốt hơn trước. Nhưng câu chuyện về chiếc khăn len ở đảo chìm vẫn được những người lính biển nhắc lại như biểu tượng của tình đồng đội và tình cảm hậu phương trong thời hoa lửa.
Bởi giữa mênh mông sóng gió, đôi khi điều giúp con người vững vàng nhất… chính là một chút hơi ấm mang theo từ quê nhà.



