Khác

Chiến dịch Biên giới 1950: Phá thế bao vây, cô lập của quân Pháp, mở rộng vùng giải phóng K21 LKT2

Chiến dịch Biên giới Thu – Đông 1950 là chiến dịch tiến công quy mô lớn đầu tiên của Quân đội ta trong kháng chiến chống Pháp. Thắng lợi của chiến dịch đã phá thế bao vây, khai thông biên giới Việt – Trung và đưa cuộc kháng chiến sang giai đoạn mới.

Thái Nguyên05/03/2026K21 LKT2 (Trường ĐH Kinh tế và Quản trị Kinh doanh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bối cảnh lịch sử

Sau thắng lợi của quân và dân ta trong chiến dịch Thu Đông 1947, thực dân Pháp đẩy mạnh việc củng cố, mở rộng hành lang Đông - Tây; đồng thời với vùng chiếm đóng ở Trung du, đồng bằng Bắc Bộ, củng cố phòng tuyến biên giới phía Đông Bắc. Tuy nhiên, đến giữa năm 1950, tình hình trong nước và thế giới có nhiều chuyển biến tích cực cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Cách mạng Trung Hoa thành công, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cùng với hàng loạt nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu ra đời. Yêu cầu chiến lược của ta lúc này là phá tan âm mưu phong tỏa biên giới phía Bắc của địch, mở đường giao lưu giữa nước ta với các nước anh em để tranh thủ sự ủng hộ, viện trợ về vũ khí, trang bị, vật chất của bạn bè quốc tế. Trước tình hình trên, tháng 6 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương Đảng đã chỉ đạo Tổng Quân ủy, Tổng Tư lệnh chuẩn bị chiến trường để quyết định mở chiến dịch Biên Giới.

Diễn biến chiến dịch

Vào sáng sớm ngày 16/9/1950, chúng ta đã khởi đầu chiến dịch bằng việc tấn công mạnh tại cụm cứ điểm Đông Khê, mở đầu cho cuộc chiến. Mặc dù đối phương đã có sự chống cự mạnh mẽ và tình huống chiến đấu trở nên phức tạp và khốc liệt, nhưng quân đội của chúng ta đã tập trung dũng cảm, tổ chức nhiều đợt tấn công xung phong và kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ. Sau 54 giờ chiến đấu, vào sáng ngày 18/9, quân đội của chúng ta đã chiếm được toàn bộ cụm cứ điểm Đông Khê, tiêu diệt và bắt giữ hơn 300 binh sĩ địch, thu giữ toàn bộ vũ khí và hạ bắn một máy bay.

Sau khi chiếm Đông Khê, quân địch đã rơi vào tình thế rất khó khăn. Thất Khê bị đe dọa, thị xã Cao Bằng trở nên hoàn toàn cô lập, và tuyến phòng thủ trên đường số 4 của họ bị tác động mạnh. Sau khi ta hoàn thành nhiệm vụ ở Đông Khê, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ chỉ huy chiến dịch đã nhận định rằng đối phương có thể cố gắng tái chiếm Đông Khê để khôi phục tuyến phòng thủ cũ hoặc tạo cơ hội cho quân đội ở Cao Bằng rút lui. Vì vậy, chiến lược của chúng ta là “nhử thú dữ vào tròng” để “khép vòng lưới thép” tiêu diệt chúng.

Theo dự đoán của chúng ta, sau thất bại tại Đông Khê, Tổng chỉ huy của quân đội Pháp ở Đông Dương đã nhanh chóng thực hiện kế hoạch rút quân ra khỏi thị xã Cao Bằng theo đường số 4, nhằm tránh nguy cơ bị tiêu diệt. Theo kế hoạch này, binh đoàn Lơ Pa-giơ tại Thất Khê (bao gồm 4 tiểu đoàn dưới sự chỉ huy của Trung tá Lơ Pa-giơ) đã được giao nhiệm vụ tiến lên chiếm lại Đông Khê để đón binh đoàn Sác-tông (bao gồm 3 tiểu đoàn dưới sự chỉ huy của Trung tá Sác-tông) từ Cao Bằng khi họ rút lui. Ngoài ra, quân đội Pháp còn tiến hành một cuộc hành quân Phô-cơ lên vùng tự do Thái Nguyên, với mục tiêu thu hút chủ lực của chúng ta và giảm áp lực trên hướng biên giới Cao Bằng – Lạng Sơn.

Việc quân địch tấn công Thái Nguyên đã được Bộ Tổng Tư lệnh dự đoán từ trước và đã sẵn sàng để ứng phó. Do đó, chúng ta vẫn tiếp tục tập trung lực lượng tại biên giới và quyết tâm thực hiện kế hoạch chiến dịch như đã lập trước đó.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt đối phương tại Đông Khê, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã tập trung hầu hết lực lượng để đánh đối thủ tiếp theo, sử dụng nó như một cú đánh quyết định để đạt được chiến thắng toàn diện. Trong khi chờ đợi cơ hội tấn công, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã quyết định mở rộng hoạt động tại phía nam Thất Khê và khi có điều kiện, tiến hành cuộc tấn công vào Thất Khê. Trung đoàn 174 đã được ra lệnh để cơ động và di chuyển xuống phía nam Thất Khê.

Sau các bước chuẩn bị và thăm dò, vào đêm 30/9, lực lượng của chúng ta đã di chuyển xuống phía nam. Bộ binh Lơ Pa-giơ, bao gồm 4 tiểu đoàn, đã bí mật tiến hành hành quân từ Thất Khê lên Đông Khê. Đồng thời, vào đêm 3/10, đội quân Sác-tông, gồm 3 tiểu đoàn, đã rút khỏi thị xã Cao Bằng một cách tĩnh lặng để hội quân với Lơ Pa-giơ.

Tuy nhiên, ngay khi đến Đông Khê, Lơ Pa-giơ đã bị chúng ta ngăn chặn và tiến hành một loạt trận đánh khốc liệt từ ngày 1 đến ngày 5/10 ở vùng phía nam và phía tây của Đông Khê. Thay vì thực hiện kế hoạch chiếm Đông Khê, Lơ Pa-giơ đã phải đối mặt với sự tiêu diệt một phần của mình và cuối cùng, họ phải chạy vào khu vực núi đá Cốc Xá, nơi địa hình khắc nghiệt và họ tự vực mình sau đó sử dụng đó làm địa điểm để hội quân với Sác-tông. Kế hoạch hội quân ban đầu của địch đã bị phá vỡ, và vào ngày 4/10, binh đoàn Sác-tông đã buộc phải từ bỏ xe và pháo, sau đó tiến hành một cuộc hành quân qua rừng để kết nối với Lơ Pa-giơ tại Cốc Xá.

Đối diện với tình hình này, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã quyết định cắt đứt khả năng liên lạc giữa hai đội quân của địch. Trước tiên, chúng ta tập trung tiêu diệt binh đoàn Lơ Pa-giơ, sau đó chuyển đối tượng tiêu diệt sang binh đoàn Sác-tông. Từ chiều ngày 5 đến sáng ngày 7/10, với tinh thần chiến đấu dũng cảm, bốn tiểu đoàn của chúng ta đã tiến hành liên tiếp các cuộc tấn công vào khu vực Cốc Xá, đánh bại và bắt sống nhiều tên địch. Mặc dù Lơ Pa-giơ và ban tham mưu của chúng cùng một phần binh lính đã tìm cách thoát ra, nhưng đến chiều ngày hôm sau (8/10), toàn bộ quân địch đã bị bắt giữ.

Cùng ngày 7/10, khi đội quân Sác-tông về đến khu vực cao 477 cách Cố Xá 3km về phía tây, năm tiểu đoàn của chúng ta đã tiến hành bao vây và tấn công, kết thúc chiến thắng sau một ngày đánh liên tục, bắt sống gần 1.400 tên, bao gồm Sác-tông và nhiều sĩ quan chỉ huy cùng với tên tỉnh trưởng tạm quyền của Cao Bằng.

Vào ngày 8/10, một tiểu đoàn dưới sự chỉ huy của Đờ-la Bôm từ Thất Khê đã tiến lên để ứng cứu Lơ Pa-giơ và Sác-tông, nhưng họ cũng đã bị chúng tôi đánh tan.

Sau khi hai đội quân cơ động và linh hoạt này bị tiêu diệt, thực dân Pháp đã tập trung tăng cường lực lượng cho Thất Khê, đưa tổng số quân số lên 3 tiểu đoàn. Mặc dù đông đảo về số lượng, nhưng tinh thần của binh lính địch đã bắt đầu lung lay và sợ hãi.

Ngày 10/10, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã quyết tâm bao vây và tiêu diệt Thất Khê. Trong khi chúng ta đang di chuyển lực lượng đến Thất Khê, vào tối ngày 10/10, địch đã bắt đầu rút lui khỏi Thất Khê. Một tiểu đoàn của địch bị quân ta chặn lại, buộc chúng phải rút lui vào rừng và sau đó bị chúng ta tiêu diệt. Địch tiếp tục rút lui liên tiếp khỏi các vị trí tại Na Sầm, Đồng Đăng, thị xã Lạng Sơn, Lạng Giang, Lộc Bình, Đình Lập và An Châu. Chúng ta tiếp tục tổ chức cuộc truy kích, nhưng do sức mạnh của ta đã suy giảm và điều kiện thời tiết không thuận lợi, nên quân ta chỉ có thể tiến hành một số trận đánh nhỏ và tiêu hao một số binh lực của địch. Vào ngày 14/10/1950, Chiến dịch Biên Giới đã kết thúc.

Kết quả chiến dịch

Sau 29 ngày chiến đấu quyết liệt, với sự mưu trí và dũng cảm, quân và dân ta đã đạt được một chiến thắng vô cùng quan trọng trong Chiến dịch Biên Giới.

Chúng ta đã đánh bại gần 10 tiểu đoàn địch (trong đó có 8 tiểu đoàn Âu – Phi, chiếm 41% lực lượng cơ động chiến lược của Pháp ở Đông Dương), tiêu diệt và bắt giam 8.296 tên (bao gồm cả toàn bộ ban chỉ huy của đồn Đông Khê và các ban chỉ huy của binh đoàn Lơ Pa-giơ, binh đoàn Sác-tông). Chúng ta thu giữ hơn 3.000 tấn vũ khí và trang thiết bị quân sự, tiêu diệt Liên khu biên giới Đông Bắc của địch; giải phóng khu vực biên giới từ Cao Bằng đến Đình Lập (Lạng Sơn), củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, mở đường liên lạc với phong trào cách mạng ở Trung Quốc.

Di tích lịch sử:

Các địa điểm Chiến thắng Biên giới năm 1950 cách thành phố Cao Bằng khoảng 40 km (theo hướng quốc lộ 4A từ Cao Bằng đi Lạng Sơn) có 19 điểm di tích được phân bố thành 4 cụm di tích nằm trên địa bàn 3 xã và 1 thị trấn của huyện Thạch An bao gồm: Cụm di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh với chiến thắng Biên giới năm 1950 (xã Đức Long); Cụm di tích cứ điểm Đông Khê (thị trấn Đông Khê); Cụm di tích Khau Luông (xã Đức Xuân); Cụm di tích Cốc Xả - điểm cao 477 (xã Trọng Con). Trong đó, các điểm liên quan đến Chiến dịch Biên giới năm 1950 được phân bố chủ yếu trong Cụm di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh với chiến thắng Biên giới năm 1950 và Cụm di tích cứ điểm Đông Khê.

Ý nghĩa

Thắng lợi của Chiến dịch Biên giới mang ý nghĩa dân tộc và thời đại sâu sắc. Chiến dịch Biên giới năm 1950 là chiến dịch tiến công lớn đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, là chiến dịch có tầm quan trọng đặc biệt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Chiến dịch Biên giới đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 8.300 tên địch, giải phóng toàn tuyến biên giới Việt - Trung từ Cao Bằng đến Đình Lập với 35 vạn dân, với diện tích rộng 4.500 km2; chọc thủng “Hành lang Đông - Tây” của Pháp. Thế bao vây của địch cả trong và ngoài đối với căn cứ địa Việt Bắc bị phá vỡ. Thắng lợi của Chiến dịch Biên giới đã làm thay đổi cục diện chiến tranh giữa ta và Pháp, tạo bước chuyển biến mới về chiến lược tiến công, phản công, góp phần đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Khi nhìn lại thất bại của nước Pháp ở cuộc chiến tranh Đông Dương, nguyên Toàn quyền Đông Dương Catơru đã chua chát xác nhận: "Sự thất bại của quân đội Pháp tại biên giới Việt – Trung tháng 10/1950 đã có ảnh hưởng quyết định đến số phận của Đông Dương và Điện Biên Phủ sau này đã phải chịu ảnh hưởng đó".

Thắng lợi của chiến thắng Biên giới năm 1950 chứng minh tính đúng đắn của đường lối chiến tranh "toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính" mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra. Bài học về phát huy nội lực, xây dựng lực lượng kháng chiến, xây dựng quân đội để làm nên chiến thắng Chiến dịch Biên giới 1950 vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn