Chiến dịch phòng không “12 ngày đêm Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”
“Chiến dịch phòng không 1972 là cuộc chiến 12 ngày đêm diễn ra ở Hà Nội. Sau các cuộc chiến tranh của đế quốc Mỹ trong mấy năm liên tiếp không khuất phục được quân dân ta, chúng lên kế hoạch muốn xóa sổ miền Bắc nước ta biến về thời kỳ đổ đá nhằm lung lay ý chí chiến đấu của quân ta. Đế quốc Mỹ sử dụng vũ khí mạnh nhất của chúng máy bay B-52 là phương án cuối cùng để thu phục Việt Nam ta. Cuối cùng với sự chỉ dẫn lãnh đạo của Đảng và sức mạnh đại đoàn kết của khối toàn dân kết hợp với ý chí kiên
1. Hà Nội và bối cảnh lịch sử âm mưu của Mỹ
Hà Nội với nghìn năm văn hiến đã lâu hiện lên trong lịch sử như một cuốn biên niên sử sống động bằng đá, nước và thời gian. Hà Nội đã đi qua khói lửa chiến tranh với những đêm không ngủ dưới bom đạn, nhưng vẫn giữ tiếng chuông chùa ngân vang với nhịp sống bền bỉ. Hà Nội không chỉ là trái tim của đất nước mà còn là biểu tượng của truyền thống yêu nước, kiên cường và trí tuệ Việt Nam, đặc biệt được khắc sau qua những năm tháng kháng chiên và xây dựng đất nước.
Sau các cuộc thất bại nặng nề trên chiến trường miền Nam và tại hội nghị Paris , Mỹ quyết định tiến hành cuộc tập kích chiến lược đường không quy mô lớn bằng máy bay B-52 nhằm gây sức ép ta nhượng bộ trên bàn đàm phán đồng thời phá hoại tiềm lực kinh tế-quân sự miên Bắc và làm lung lay ý chí kháng chiên của nhân dân Việt Nam. Từ ngày 18/12 đến 30/12/1972, Mỹ huy động 193 máy bay B-52; cùng hơn 1.000 lần máy bay chiến thuật và 729 lần ném bom rải thảm Hà Nội, Hải Phòng và các vùng lân cận khác.
Trước âm mưu đó quân ta với 54.000 chiến sĩ và dân quân tham gia các hoạt động chiến đấu và vận tải; củng cố lực lượng phòng không-không quân; bố trí mạng lưới tên lửa, pháo cao xạ, ra-đa đày đặc; sơ tán nhân ,dân bảo vệ mục tiêu trọng điểm đồng thời huấn luyện các chiến sĩ sẵng sàng đánh B-52 trong điều kiện ác liệt. Trong tình cảnh đó, bà con nhân dân Hà Nội đào hầm bên bom như câu chuyện của cựu chiến binh Nguyễn Văn Thắng: “ Chúng ta sống dưới hầm cả tuần, nhưng tinh thẫn vẫn vững vì biết tiền tuyến đang cầm cự”. Ở tiền tuyến, lời kể của phi công Phạm Tuân: “ Tôi bắn hạ B-52 trong đêm 12/12/1972, nhưng đồng đội hi sinh nhiều tình đồng đội khiến chúng tôi kiên cường, quả cảm hơn nữa”. Còn gì tuyệt hơn tình đồng đội khi mà câu chuyện của dân quân Hà Nội: “ Chúng tôi chia sẻ lương khô, cùng nhau bảo vệ phố phường; một người hy sinh, cả đội quyết tâm bắn hạ trả thù”.
2. “ Trong đêm 21/12/1972, bầu trời Hà Nội đỏ rực như hỏa địa ngục. Tên lửa SAM-2 lao vút lên ,đuổi theo chiếc B-52 tiếng nổ vang vang như sét sét. Dân quân Hà Nội, với đôi tay run run nhưng mắt hiển định, bắn súng cao xạ, mồ hôi nhễ nhại hòa với bụi đất. Khi máy bay Mỹ rơi, khói đen cuồn cuộn, họ ôm nhau vì vui mừng xen kẽ đau thương cho đồng đội hy sinh-một cảnh tượng bi tráng của lòng dũng cảm vô song.”
Bước vào giai đoạn khốc liệt nhất của chiến dịch phòng không 1972 khi quân dân miền Bắc đối đầu trực diện với sức mạnh không quân hiện đại bậc nhất thế giới. Từ 19 giờ 44 phút, ngày 18/12/1972, quả đạn tên lửa đầu tiên của Tiểu đoàn 78 thuộc Trung đoàn Tên lửa 257 được phóng lên - cuộc chiến đấu 12 ngày đêm của lực lượng phòng không ba thứ quân bảo về Hà Nội bắt đầu. Trung đoàn Tên lửa 261 được lệnh đánh tập trung, tiêu diệt tốp máy bay 671 từ hướng Tam Đảo đánh phá các kho tàng ở Đông Anh, Cổ Loa. Một kíp chiến đấu của Tiểu đoàn 59 đã phóng 2 quả đạn từ cự ly thích hợp, hạ một máy bay B-52. Đây là chiếc B-52 đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ trên bầu trời Hà Nội, cách trận địa chưa đầy 10km. Thắng lợi hạ gục tại chỗ” Siêu pháo đài B-52" ngay trong đêm đầu tiên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về tư tưởng và tác chiến của Bộ Chính trị, Bộ Tổng tư lệnh và tất cả cán bộ, chiến sĩ trực tiếp chiến đấu bảo về Hà Nội.
Không chỉ quân đội mà cả nhân dân Hà Nội, Hải Phòng và các địa phương miền Bắc đều sống và chiến đấu trong tư thế người lính. Người dân vừa sơ tán, vừa cứu thương, khắc phục hậu quả bom đạn, tiếp tế cho chiến trường. Hậu phương vững chắc và tiền tuyến hòa làm một tạo nên sức mạnh tổng hợp hiếm có trong lịch sử hiện đại.
Đỉnh cao của giai đoạn này là đêm 26/12/1972, khi quân dân ta bắn rơi nhiều B-52 nhất trong một đêm làm rung chuyển chiến lược không kích của Mỹ. Đó là minh chứng hùng hồn cho bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần “ dám đánh- biến đánh- quyết thắng” của Việt Nam.
3. “ Trong không khí hùng tráng, Hà Nội năm 1972 vẫn rực rỡ dưới ánh đèn đường, nhưng bầu trời ngột ngạt vang tiếng máy bay B-52. Cậu bé Minh đứng trên mái nhà, mắt long lanh nhìn những ngọn lửa tên lửa lao lên, như hô vang vọng từ phố xá, hòa quyện với tiếng bom nổ xa xa, tạo nên bản giao hưởng của lòng quyết tâm quân dân ta.”
Để thêm sau sắc cảm xúc chủ đạo trên mang theo sự hùng tráng xen lẫn bi thương, tăng cường sức mạnh và nhân văn. Và hơn nữa, hồi tưởng về tuổi thơ hòa bình hoặc đối chiếu với góc nhìn phi công Mỹ để tạo chiều sâu xung đột nội tâm, làm nổi bật thông điệp chống chiến tranh.
Sau 12 ngày đêm ác liệt, ngọn lửa chiến đấu của quân và dân ta không tắt đi trong khói bom mà trái lại bừng sáng rực rỡ thành chiến thắng mang tầm vóc thời đại. Quân dân miền Bắc đã đánh trả không quân Mỹ những đòn đích đáng, bắn rơi 81 máy bay (trong đó có 34 máy bay B-52 và 5 máy bay F111), bắt sống 43 phi công Mỹ, đập tan cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B-52 của chúng. Thắng lợi này được coi như trận Điện Biện Phủ trên không.
Lần đầu tiên trong lịch sử, “pháo đài bất khả xâm phạm” bị đánh bại trên quy mô lớn làm sụp đổ niềm kiêu hãnh quân sự của đế quốc Mỹ. Chiến thắng của cuộc không quân không chỉ mang ý nghĩa quân sự ,mà còn là thắng lợi chính trị ngoại giao. Nó buộc Mỹ phải chấm dứt ném bom miền Bắc và quay lại bàn đàm phán kí hiệp định Paris năm 1973 và rút quân khỏi Việt Nam, mở đường cho đại thắng mùa Xuân năm 1975.
“Lửa rực sáng của năm 1972 “ trở thành biểu tượng bất diệt của ý chí Việt Nam trong thế kỉ XX biểu tượng của một dân tộc nhỏ bé nhưng không khuất phục trước bất kỳ thế lực nào.
Lời kết:
Hồi ức 1972 - Ngọn lửa không bao giờ tắt
Từ mùa đông khói lửa năm 1972 đến hôm nay, hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng âm vang của “ Điện Biên Phủ trên không” vẫn còn vọng mãi trong lòng dân tộc Việt Nam. Những đêm bàu trời Hà Nội rực lửa, tiếng còi báo động, tiếng tên lửa xé gió và ý chí sắt đá của quân dân ta đã trở thành biểu tượng bất diệt của bản lĩnh Việt Nam trước mọi thử thách.
Hồi ức về năm 1972 không chỉ để nhắc lại một chiến thắng vẻ vang mà còn nhắc nhở các thế hệ hôm nay và mai sau về giá trị của Hòa bình, độc lập, tự do những điều được đánh đổi bằng xương máu và lòng quả cảm của cha ông ta.
Ngọn lửa của năm 1972 đã đi vào lịch sử của đất nước ta nhưng ánh sáng của nó sẽ còn soi đường cho hiện tại và tương lai.


