Chống di dân, giữ máy móc
Cách Mạng
70 năm trước, lực lượng cách mạng ở Hải Phòng chủ yếu ở ngoại thành, vùng đã giải phóng, còn nội thành chủ yếu là nhóm hoạt động bí mật. Xác định TP Hải Phòng là điểm nóng của cả nước nên Trung ương Đảng quyết định tách Hải Phòng ra khỏi Khu Tả ngạn, trực tiếp chỉ đạo. Nhiều cán bộ từ trung ương được tăng cường, ông Đỗ Mười được phân công làm Bí thư Thành ủy.
Từ vùng giải phóng, cán bộ cách mạng tìm mọi cách thâm nhập vào nội thành để nắm bắt tình hình, thành lập đội ngũ hoạt động bí mật. "Những người sống trong nội thành được kêu gọi, kết nạp vào Đội Thanh niên tuyên truyền xung phong, có nhiệm vụ chống lại hoạt động phá hoại", cựu chiến binh Mai Văn Tú, 90 tuổi, ở phường Thượng Lý, quận Hồng Bàng, nhớ lại.
Hàng ngày, ông Tú và đồng đội nhận nhiệm vụ bằng cách truyền miệng rồi tỏa đi xóa khẩu hiệu phản động trên phố. "Hai người được cắt ra canh gác hai đầu đường, người còn lại dùng vôi xóa, giật khẩu hiệu mà địch vừa viết. Phải bí mật, bị lộ là chúng bắt đưa lên tàu vào Nam ngay", ông Tú kể. Đội của ông Tú còn phải trà trộn vào đám đông để theo dõi, nhận diện phản động để báo cho tổ chức xử lý và xâm nhập các nhà máy, công sở để giữ tài sản.
Tổ chức Đảng phân công anh em tự động phân tán, tháo rời, cất giấu tài sản, máy móc vào nhà dân hoặc ở nơi kín đáo, canh gác bảo vệ máy. Nhiều người mang cơm nắm, bánh trái ăn ngủ tại nhà máy. Chỉ một tuần (từ 12/3 đến 17/3/1955), nội thành Hải Phòng có 15 cuộc đấu tranh giữ máy móc, chống giãn thợ ở nhà máy Xi Măng, Máy Chai, Trại Pháo Thủ, xưởng Marin, Sở Bưu điện...
Ngày 27/10/1954, 300 công nhân đấu tranh giữ lại toa xe, đầu máy trước lệnh tháo dỡ của chủ sở. Hay tin người dân gần ga Hải Phòng đến hỗ trợ, số lượng lên đến 700-800. Sau đó một ngày, khi lính Pháp lại tới Nhà thương Vườn hoa (Nhà triển lãm hiện nay) tháo thiết bị y tế, người dân tiếp tục tập trung phản đối.
"Hàng vạn người kéo đến, bất chấp sự đàn áp, bắt bớ của quân tay sai Mỹ, Pháp. Khoảng 10h, cảnh sát tới bắt nhiều người đi nhưng người dân ở Xi Măng, Lạc Viên, cảng vẫn kéo đến đấu tranh đến 21h và dừng lại khi Ủy ban quốc tế đọc biên bản, Pháp buộc dừng di chuyển máy móc và thả người", ông Tú kể.
Tư liệu lịch sử Đảng bộ thành phố ghi nhận nhân dân Hải Phòng đã tổ chức nhiều cuộc đấu tranh giữ máy móc, thiết bị, tài nguyên với hàng trăm, hàng nghìn người tham gia. Trước sự khủng bố bằng xe phun nước muối, gậy gộc của kẻ thù, nhiều người nằm ra cản bánh xe, ôm chặt máy móc.
Nhằm hạn chế binh lính tay sai cho Pháp, Mỹ di chuyển vào Nam, các đoàn thể, đặc biệt là hội phụ nữ được phân công đến từng gia đình binh sĩ vận động. Hàng ngày, các mẹ, các chị đến đồn bốt kêu gọi chồng con trở về. Chỉ một tháng sau Hiệp định Geneve, 23 đại đội với 3.481 binh sĩ giải ngũ.
Để ngăn làn sóng di dân, ở vùng giải phóng, tổ chức Đảng đưa cán bộ về làng Công giáo tuyên truyền. Một số nhà tư sản, trí thức được mời tham quan Hà Nội, Hải Dương để chứng kiến đời sống sau giải phóng. Với tư cách người nhà, cán bộ và cơ sở bí mật vào trại tập trung di cư gặp người dân, khơi gợi tình cảm gia đình, tình làng nghĩa nước, vận động giáo dân trở về quê hương. "Cán bộ bày cách cho các gia đình, công nhân viên chức cứ ghi danh, nhận tiền để không bị bọn lưu manh đến đe dọa, sau đó tìm cách trì hoãn, không đi'', ông Tú nói.
Một số đồng bào mới từ miền Nam trở ra được đưa vào trại di dân, kể lại sự thật hỗn loạn của chính quyền phản động thân Mỹ. Những câu chuyện thực tế tác động mạnh đến tư tưởng, tình cảm của người dân di cư. Giáo dân trú ở trường Ngô Quyền sau đó đấu tranh đòi về quê, buộc Pháp phải đưa họ về Hà Nội. Tháng 9/1954 có 335 gia đình bỏ trại, tháng 10/1954 tăng lên 1.200 gia đình.
>>Hải Phòng ngày giải phóng 13/5/1955



