CHƯƠNG X
CHƯƠNG X
CHƯƠNG X
Đầu tháng 5 tháng 1979, tôi được lệnh cùng với tiểu đội về cứ của Trung đoàn đóng ở sân bay Puchămpông lấy lương thực, thực phẩm cho trung đoàn. Bây giờ là mùa khô nên đi trong rừng cứ thấy lá khô vụn vỡ dưới từng bước chân. Không khí nóng bức cộng thêm sự căng thẳng lo sợ phục kích trên đường vì thỉnh thoảng tiếng súng lại rộ lên cả phía trước lẫn phía sau chúng tôi khiến cho con người như muốn vỡ bung ra.
Nhưng nghĩ đến việc sắp được ra cứ, ít nhất cũng được nghỉ ngơi một đêm trọn vẹn cũng thấy khỏe ra rồi. Tôi giục anh em đi nhanh kẻo tối, mà phải đi khoảng cách thưa ra, mỗi người cách nhau 15m phòng khi bọn Pôn pốt nó phục kích không ứng cứu cho nhau được.
Ra tới đường 3, chúng tôi thở phào như trút được gánh nặng, vựot qua 40km đường rừng chứ có ít đâu. Lác đác đã có vài hàng quán của dân, tuy còn vắng người nhưng với chúng tôi như thế là sầm uất lắm rồi. Cả tiểu đội phát hiện ra hàng hủ tiếu mắt ai cũng sáng rực lên, định phen này mỗi thằng phải làm một bát cho sướng cái bụng. Nhưng hình như họ không mua bán bằng tiền, mà tiền Việt của chúng tôi thì chắc chắn họ càng không tiêu. Họ tính một lon gạo đổi một tô hủ tiếu! Thôi đành ăn hủ tiếu ngó vậy vì chẳng có thằng nào mang ruột tượng gạo đi cả. Cái mùi thơm của hủ tiếu cứ như trêu ngươi chúng tôi, thằng nào cũng kêu lên: Chắc là hủ tiếu ngon lắm đây! Thằng Giảng chạy lên ngang với tôi nói nhỏ:
- Anh Tuấn ơi, kệ đi, mình cứ vào chén họ không dám lấy tiền đâu. Anh em mình vừa mới trong rừng ra, ai cũng râu ria lởm chởm thế này, chỉ cần trợn mắt, trợn mũi dọa một tí là họ khiếp ngay ấy mà...
- Mày muốn chết à? - Tôi gằn giọng - Đây là dân vận, mà là nghĩa vụ quốc tế đấy. Người ta nâng cao quan điểm là hết đời, nghe chưa? Ở nước mình làm bậy còn tha được chứ đây là nước bạn, mày làm thế là toi đấy. Nghe anh nói đây, từ bây giờ cấm tuyệt đối làm bậy bất cứ điều gì nghe chưa? Thôi cố nhịn đi, chỉ còn mấy bước nữa là đến cứ rồi, về đó xin gạo, thằng nào muốn ăn thì mang ra mà đổi, một ruột tượng có mà tha hồ ăn.
Chúng tôi bấm bụng về cứ, cho dù chính tôi cũng chảy nước miếng vì cái mùi hủ tiếu. Anh Đào trợ lý hậu cần, anh Phúc trợ lý tác chiến chờ sẵn chúng tôi ở đó rồi.
- Có việc khẩn trương đây các đồng chí! Ngay bây giờ phải bốc gạo lên xe để sáng mai đi sớm, Trung đoàn sẽ còn phải tiến sâu hơn nữa.
Tôi bảo anh em xếp gạo hai bên thành xe như kiểu công sự đề phòng bị phục kích. Cũng không hiểu sao lần này tôi lại làm thế, tôi linh cảm thấy sự nguy hiểm rình rập suốt chặng đường 40 km vừa rồi. Bốc xong 5 tấn gạo cùng với các loại thực phẩm mỡ, muối, thịt hộp, cá khô, trời cũng vừa tối.
Xong xuôi mọi việc thì đã mệt bã cả người, chẳng còn thằng nào nghĩ đến chuyện đi ra phố chơi nữa. Chúng tôi lăn ra ngủ một giấc ngon lành trong sự yên tĩnh hiếm hoi không một tiếng súng.
* * *
8 giờ sáng hôm sau, chúng tôi cho xe chạy sâu vào trong rừng. Mới được chừng 10km thì tình hình có vẻ rất căng thẳng, tiếng súng nổ không ngừng! Tôi lo ngại bảo anh Huyến lái xe:
- Tình hình này có vẻ không ổn anh ạ. Anh dừng xe để bọn em xuống đi trước 100m, xe đi sau cho an toàn.
Anh Đào và anh Phúc đồng ý với phương án của tôi.
Tôi phân công Soạn cùng 3 người khác ở trên xe, mỗi bên xe hai người sẵn sàng chiến đấu. Tôi, Vòng, Sáng, Sơn xuống xe thành tốp đầu dẫn đường, 4 người khác đi sau xe khóa đuôi, mỗi nhóm cách nhau 100 m. Cứ thế chúng tôi dò dẫm đưa xe đi. Dân thoát được sự kiểm soát của Pôn pốt nên đi từ trong rừng ra càng lúc càng nhiều. Thoạt đầu chúng tôi tưởng là Pôn pốt định nổ súng, may mà rừng thưa nên phát hiện kịp. Họ phát hoảng lên, chắp tay lạy rối rít khi chúng tôi dừng dừng họ lại để xem họ có mang theo vũ khí gì không. Dân họ sợ, mà chúng tôi cũng vọt tim ra ngoài.
Gặp tốp dân thường thứ hai, chúng tôi có kinh nghiệm nên đỡ căng thẳng hơn. Lần này thấy họ khốn khổ quá. Quần áo rách tả tơi với khuôn mặt hốc hác vàng vọt. Nhiều người bị ốm phải dìu nhau đi từng bước rất nặng nhọc. Có lẽ số người này phải trốn trong rừng đã quá lâu rồi. Họ nhìn chúng tôi từ đầu đến chân như thể xăm xoi xem trên bộ quân phục bộ đội Việt Nam có gì khác lạ. Rồi họ cười, rồi nước mắt trào ra cả khi họ cười. Có lẽ họ biết chúng tôi không nguy hiểm đối với họ nên một vài người mạnh dạn tới chúng tôi xin gạo.
Tôi dốc 2kg gạo trong ruột tượng ra cho tốp mười người. Gạo vừa đổ ra, họ bốc ăn sống luôn. Một người trong số đó tiến lại gần tôi nhìn với ánh mắt rất lạ. Anh ta tháo bọc đồ buộc trên người, lần lần tay lấy ra một chiếc nhẫn vàng giúi vào tay tôi nói nhanh: “Com táp Việt Nam. Cà ná”. Tôi chưa kịp hiểu ra điều gì, anh ta đã chắp tay. Tôi đoán có lẽ anh ta muốn nói lời cảm ơn hay gì đó. Tôi vội vã xua tay, trả lại anh ta cái nhẫn. Anh ta vừa cầm chiếc nhẫn bằng hai tay vừa quỳ thụp xuống, nói cái gì đó và nhìn tôi với ánh mắt van lơn. Thằng Vòng nháy tôi: “Cứ lấy đi mày, người ta tự nguyện chứ mình có đòi đâu mà sợ!”. Tôi tần ngần một lúc rồi cầm lấy chiếc nhẫn. Như thế anh ta mới chịu đứng lên đi. Thực ra trong lòng tôi thấy ngài ngại thế nào. Người ta bảo trong chiến trận mà cầm vàng là xui xẻo lắm.
Cứ mỗi một tốp dân trong rừng đi ra là chúng tôi lại phát gạo cho họ. Mỗi tốp chỉ vài cân thôi mà đã hết cả bốn ruột tượng của bọn tôi mất rồi. Tất nhiên lòng tốt của chúng tôi cũng được đền đáp xứng đáng bằng những chiếc nhẫn vàng. Lúc gặp dân thường thì vẻ ngoài chúng tôi có vẻ thích thú nhưng
không hẳn thế. Chúng tôi chỉ sợ Pôn pốt đi lẫn với dân nên những lúc thế này là lúc cảnh giác nhất.
Bọn tôi gặp đại đội 2 của tiểu đoàn 5 chốt giữ dọc đường lúc hai giờ chiều. Tôi quẳng cho họ bao thuốc Vàm cỏ, tiện thể hỏi xem tới Trung đoàn còn xa không. Họ nói còn ít nhất 3 km nữa mới tới nơi. Quanh đây các đại đội chốt cũng khá nhiều nên tôi yên tâm cho anh em lên hết xe, không phải dò dẫm nữa. Tay phải bám vào cửa lái, tay trái cầm súng, tôi đứng trong tư thế đó nói chuyện với anh Huyến lái xe. Xe vừa mới đi qua điểm chốt của C2 khoảng 500m.
Đúng lúc tôi ghé lại gần để cho anh Huyến cắm điếu thuốc hút dở của anh lên môi tôi thì Oàng! Hình như một quả B40 vừa mới vọt qua nóc xe. Viên đạn vướng vào cành cây khiến cho nó đổi hướng vọt lên trên. Liền ngay sau đó là loạt đạn AK bắn liên tục vào đầu xe. Đạn cứ găm vào thành xe phằm phặp. “Bị phục kích rồi!”- Tôi nghĩ thế và nghiêng người nhảy nhanh ra khỏi xe tránh đạn. Chân tôi vừa chạm đất thì bỗng thấy đau nhói bên hông. Tôi nhìn xuống thấy máu chảy ròng ròng xuống chân, thấm ướt một bên quần. Tôi đã bị thương. Tôi nhận ra khẩu AK của tôi đã văng ra khỏi người lúc nào. Một tay bịt vết thương, tôi bò rạp dưới đất, lết lại gần khẩu súng định lấy lại nhưng tôi cứ thấy người nhẹ bẫng, chân phải không thể điều khiển được nữa và cái mông thì mát lạnh có lẽ vì máu chảy. Tôi cố trườn lên cầm súng chờ bọn địch xông lên. Phía bên kia đường, anh Đào, anh Phúc nằm cách nhau mấy mét. Tôi hét to:
- Anh Đào ơi! Em bị thương rồi! Băng cho em với!
Anh Đào bật dậy lao về tôi. Đang đà chạy chỉ còn cách tôi hai mét thì một viên AK găm chặt vào bắp chân anh khiến anh khuỵu xuống, chân trái đưa lên cao vừa đúng tầm một viên đạn khác bắn tới. Thế là mắt cá chân của anh lại bị dính đạn mất rồi. Máu từ chỗ mắt cá chân anh ra nhiều quá. Hai vết thương cùng lúc lại ở chân nên anh Đào không thể tiến lên được nữa, đành phải nằm nguyên tại chỗ. Còn tôi, bị mất máu nhiều nên cảm thấy yếu đi trông thấy. Tôi cố gào thêm lần nữa:
- Anh Phúc! Anh Đào bị thương nặng rồi! Băng cho anh ấy trước đi!
Anh Phúc một tay cầm cuộn băng, một tay cầm khẩu K54 hô: “Các đồng chí bĩnh tĩnh!” rồi lom khom chạy lại phía anh Đào. Tôi đang mải nhìn theo anh thì thấy cánh tay phải của anh văng ra treo lủng lẳng bởi cái tay áo. Anh buông cuộn băng ra, nắm chặt bắp tay phải của mình thét lên “Tao cũng bị thương rồi!”
Cuối cùng thì cả ba chúng tôi đã bị thương, chỉ còn tôi là còn súng và bị thương nhẹ nhất. Tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Chẳng còn cách nào có thể đưa chúng tôi ra khỏi nơi này. Tôi cố nhỏm dậy lia hết một băng đạn về phía địch vì lo sợ chúng mà lên thì nguy cho cả ba chúng tôi.
Tất cả diễn biến vừa rồi chỉ diễn ra chừng hai phút mà tôi có cảm giác
như thời gian dài ra vô tận. Tôi tuyệt vọng cố bắn thêm loạt đạn thứ hai thì may sao anh em C2 đến giải cứu chúng tôi kịp thời.
Lúc nãy trên xe có 5 người thì cả năm người bị thương hết, trong đó anh Đào bị thương cả hai chân nặng nhất. Anh Phúc cụt tay phải, tôi thì bị đạn xuyên mông, anh Tòng, thằng Thao bị mảnh B40 nhỏ găm vào chân, tay. Phải nhanh chóng cứu thương thôi. Tôi hô anh em chặt tre làm cáng khiêng gấp ba chúng tôi về D24 Sư đoàn ở cách trận địa này 5km. Chỉ riêng anh Tòng và thằng Thao còn có thể tự đi được. Thằng Thao đi theo cáng, cười nhăn nhở trêu tôi: “Thế là em lại được ra viện cùng anh rồi.” Tôi nghe nó nói thế cũng muốn nói lại với nó vài câu nhưng nói không ra hơi, tiếng nói cứ như chìm nghỉm ở chỗ nào xa xăm lắm.
Về tới D24 Sư đoàn chúng tôi được đưa lên bàn mổ ngay. Anh Đào may ra giữ được cả hai chân vì phát đạn xuyên mắt cá chân trái khó mà giữ được nguyên vẹn. Anh Phúc dứt khoát phải cưa tay rồi, không thể giữ lại được nữa. Đến lượt tôi đưa lên bàn mổ, sau khi tiêm thuốc tê, tôi vẫn còn ngoái lại xem bác sĩ cầm dao mổ cắt những phần thịt bị đạn làm xơ ra, tiếng cắt thịt cứ sồn sột ghê cả người. Đến lúc ông bác sĩ luồn cái gạc sâu vào vết thương để sát trùng, tôi đau thấy trời, chỉ muốn chửi cho ông ấy một trận, may quá tôi chưa kịp chửi thì ông ấy đã làm xong. Phù. Tôi vội vàng níu tay ông ấy hỏi:
- Liệu có bị đi tập tễnh không bác sĩ?
- Yên tâm đi! Lấy vợ tốt! - Ông ấy cười.
* * *
Sáng hôm sau chúng tôi được chuyển về tuyến sau. Cùng đi ra với chúng tôi còn có hai xe chở sáu mươi tù binh nữa. Một xe chạy trước, một xe chạy sau xe cứu thương. Xe cứu thương chở 9 thương binh chúng tôi đi giữa. Dãy bên này Anh Phúc ngồi trong cùng rồi đến tôi, đến thằng Thao và một vệ binh sư đoàn hộ tống, ngồi cuối cùng là cậu y tá. Bên dãy ghế kia anh Đào nằm dọc cả ghế. Ở giữa sát gần buồng lái là một phi xăng. Xe chật chội đến nỗi không thể đóng cửa xe được. Cậu y tá định lấy dây dù buộc lại cho cánh cửa xe khỏi lắc lư va đập nhưng tôi bảo “Cứ để thế đi ông, có gì còn nhảy ra cho lẹ”.
Không hiểu sao tôi ngồi trên xe mà cứ lo lo. Đi cùng mấy thằng tù binh thế này có lẽ không ổn lắm. Kiểu gì bọn địch chẳng cố cứu bọn này? Gần trưa, nắng lên oi bức mà quãng đường đi chưa được bao xa. Xe chạy đường rừng nên không thể đi nhanh được. Kh ô ng c ó xe n ào Chỉ thấy xe chạy ngược chiều dọc con đường có những cây chò chỉ cao vút với đám cỏ dại mọc lúp xúp dưới gốc cây. Có ai đó giống như thằng An C17 ngồi trên một chiếc xe chạy ngược chiều thì phải. Tôi hơi nhoài người cúi xuống phía dưới gọi “An, An!”. Nhưng đáp lại tôi là tiếng nổ của B40 ùng oàng... tôi gục xuống. Một ý nghĩ rất nhanh thoáng trong đầu tôi: “Mình chết rồi”. Và tất cả chìm trong bóng tối. Rồi bỗng nhiên tôi lại nghe thấy tiếng đạn găm vào
thành xe pằm pặp liên tục. Vai tôi nóng và nặng trĩu. Tôi lắc đầu choàng tỉnh, tôi hiểu là mình còn sống và cố cựa mình ngồi dậy nhưng tôi không thể nào mà ngồi dậy vì có ai đó đè cứng người tôi. Tôi dùng tay ở bên vai không bị thương đẩy ra. Anh Phúc bất động đổ ập xuống. Anh đã chết.
- Đau quá, em mù mắt rồi anh Tuấn ơi! Chưa hết bàng hoàng tôi lại nghe thằng Thao hét lên đau đớn.
- Nhẩy ra đi! - Tôi bỗng cáu lên quát nó vì cánh tay phải của tôi đang tê dại. Do đã định hướng từ trước nên dứt lời là tôi lao ra hướng cửa, hình như đầu gối tôi húc vào sườn thằng Thao. Hai anh em tôi thoát được ra khỏi xe trong tích tắc. Tôi nhìn nhanh thằng Thao từ đầu tới chân, nói như ra lệnh:
- Mày còn chân chạy nhanh lên đi, không nó vác rìu lên băm chết bây giờ.
- Không, em đi cùng anh - Nó bíu chặt tay tôi, khuôn mặt đầy máu chảy ra từ mắt. Lòng tôi chợt dâng lên một nỗi xót xa thương cảm. Trong xe, phuy xăng đã bắt đầu bén lửa, cháy bùng lên. Tôi thấy trong đám lửa thấp thoáng anh Đào chui đầu ra ô cửa, rồi cả người anh rơi phịch ra khỏi xe. Ba chúng tôi cố gắng hết sức bò ra xa chiếc xe đang bốc cháy dữ dội. Lẫn trong tiếng lửa cháy là tiếng kêu cứu thất thanh của ai đó. Ai nhỉ? Ai còn trong xe mà chưa ra được? Tôi rất muốn quay lại xem sao nhưng tình thế lúc này không thể làm gì được nữa. Lửa đã trùm cao lên toàn bộ chiếc xe có phuy xăng bên trong, vả lại cả ba chúng tôi đều không còn đủ sức để nâng thân mình đứng vững, huống chi...
Khi vệ binh áp tải tù đánh bật bọn phục kích đi, bảo vệ được xe tù rồi quay lại ứng cứu chúng tôi thì cả chiếc xe đã biến thành cột lửa khổng lồ, trong đó vẫn còn nghe thấy tiếng kêu cứu yếu ớt. Mọi người xông vào tìm kiếm, kéo ra được một người cháy đen nhẻm. Hóa ra là cậu y tá hộ tống. Cả người cậu cháy hết, quần áo cũng cháy chỉ còn mỗi cạp quần, cổ áo, nẹp áo... Mọi người khiêng cậu y tá đặt nằm cạnh tôi. Tôi nghe láng máng lúc cấp cứu bỏng mọi người thắc mắc tại sao cậu y tá không bị mảnh đạn nào mà không chui ra khỏi xe được? Họ rắc thuốc bỏng khắp người cậu y tá. Đến lúc anh bác sĩ lấy kéo cắt hết mớ tóc cháy quăn lại của cậu ta thì kéo cắt đúng vào mảnh B40 to cỡ chừng hai ngón tay. Nhát kéo cắt mạnh làm cho người cậu y tá giật lên một lát rồi lịm đi. Cậu không bao giờ còn đứng lên được nữa.
Có lẽ chính mảnh B40 này đã khiến cậu không thể chui ra được, nó găm đúng vào vành tai. Tôi đoán rằng, lúc lên xe cậu ta ngồi đối diện tôi và thấp hơn tôi. Đúng vào lúc tôi cúi xuống gọi thằng An thì đạn nổ, mảnh đạn lướt qua chỏm đầu tôi, sạt vào bả vai tôi rồi găm vào vành tai cậu ta.
Bây giờ chín người đi đã hy sinh mất năm, chỉ còn sót lại có bốn đều bị thương cả, trong đó có tôi. Mọi thứ để trên xe cháy sạch sành sanh. Cái ba lô của tôi đựng bao nhiêu vật kỷ niệm, quần áo và cả vàng dân cho nữa cũng cháy hết rồi. Nhìn tôi lúc này thật buồn cười. Áo không có, quần càng không
vì vết thương cũ ở hông phải quấn băng, vết thương mới ở bả vai không thể mặc áo. Bây giờ tôi chỉ còn lại duy nhất cái dây chuyền của thằng Vinh Tây gửi lúc trước khi nó hy sinh. Chẳng hiểu sao tôi lại quấn vào cổ chân nên mới còn như không thì cũng mất luôn.
Mấy người bị thương chúng tôi lại được đưa về lại D24 Sư đoàn. Tôi được cáng sau cùng nghe thấy mấy cậu y tá hôm qua hốt hoảng hỏi:
- Ông Tuấn 52 chết rồi à?
- Chết thế nào được. Tôi còn sống đây. - Tôi cố nhỏm dậy, nói to.
Mấy cậu y tá lôi thuốc lào ba số 8 và thuốc Vàm cỏ mà hôm phẫu thuật tôi chia cho họ hút ra mời lại tôi, cười:
- Ông là cao số lắm đấy.
- Tôi cũng chẳng biết thế nào nữa - Tôi trả lời, không vui cũng chẳng buồn. Có thể tôi là người may mắn. Nhưng tôi sẽ còn phải đối mặt với một lần chuyển viện nữa. Tôi nghĩ đến điều đó, thoáng ớn lạnh.
Lại một lần chuyển viện đến viện quân khu 9 đóng ngay tại Phnompenh, một chuyến xe mà tôi không hề muốn đi tí nào. Hai lần bị phục kích trong hai ngày liền là quá đủ cho một người lính. Mỗi một lần nghe tiếng súng nổ tôi lại giật bắn mình, không sao bình tĩnh nổi. Nỗi sợ hãi bị dính đạn lần nữa sao mà khó chịu đến thế.
Vào viện được mấy hôm rồi mà tinh thần tôi vẫn chưa thể ổn định. Có thể nói là hoảng loạn thì đúng hơn. Lúc tỉnh táo thì chẳng có vấn đề gì, nhưng sợ nhất là lúc tôi đang thiu thiu ngủ hoặc đang nằm nghỉ yên tĩnh mà có bất cứ tiếng động gì là tôi giật thót người. Tất cả những hình ảnh bị phục kích, tiếng đạn, lửa cháy cứ tái hiện lên trước mắt tôi một cách rõ ràng như lại mới xảy ra cách đây vài phút. Nỗi ám ảnh bị phục kích cứ vây bám lấy tôi không thể nào mà gạt bỏ nó ra khỏi đầu óc được.
Sau hơn một tháng, các vết thương của tôi đã bắt đầu liền miệng và tinh thần tôi có vẻ như ổn hơn một chút. Cậu y tá bỗng dưng xách AK ra ngoài, cắt ngang câu chuyện đang dở giữa chúng tôi. Tôi đoán có lẽ phải ở trong này hơi lâu không được bắn súng nên cậu ta ra ngoài làm vài phát cho đỡ bí bách đây. Thế mà tôi đoán không sai, cậu ta làm thế thật. Một loạt đạn AK nổ tằng tằng. Tôi hết hồn nháo nhào đi tìm chỗ ẩn nấp. Tiếng đạn dứt hẳn, mọi người trở lại đều tá hỏa vì không thấy tôi nằm trên giường bệnh nữa. Thằng Kiên, lính quân khu 9 gọi ầm cả lên:
- Tuấn ơi, Tuấn ơi! Lạ quá cái thằng này nháy mắt đã đi đâu nhỉ?
Tôi nghe thấy nó gọi nhưng vẫn không dám ra vì sợ. Người tôi run bắn lên, không sao mà kiềm chế được. Tôi cứ để mọi người gọi như thế một lúc thật lâu, khi mọi thứ trở lại bình thường và yên ắng trở lại, mọi người mới lôi được tôi ra từ trong gầm giường. Tôi lóp ngóp chui lên, bắt đầu có cảm giác hoang mang về một điều gì đó thật mơ hồ. Tôi không ngờ mình lại có phản ứng kỳ cục như thế mỗi lần nghe tiếng súng hoặc bất kỳ một tiếng động nào
na ná như vậy. Tôi nhẩm tính, đã ba lần tôi bị kiểu này từ lúc nằm viện tới giờ. Một lần nghe tiếng sấm trời mưa giông, và cả lần này nữa là hai lần phải tìm chỗ trốn như kẻ bị tâm thần vì nghe tiếng súng.
Cũng may y tá ở đây là những thanh niên hội chữ thập đỏ của thành phố Cần Thơ biết tôi là người Hà Nội nên hỏi tôi đủ thứ chuyện về Hà Nội. Tôi tự hào và say sưa kể cho họ nghe về vẻ đẹp của Hồ Gươm lúc giao mùa cuối thu, đầu đông... khi ấy bắt đầu có sương mù dày đặc, ùa xuống mặt hồ khiến cho Tháp Rùa thoắt ẩn, thoắt hiện như trong cõi thần tiên. Tôi kể cho họ nghe về Hồ Tây nổi tiếng với những bài thơ ca ngợi về vẻ đẹp của nó cho họ nghe. Nhưng câu chuyện tôi kể như là những món quà đặc biệt dành cho họ.
Như bù lại, mỗi khi rảnh rỗi họ lại tụ tập quanh giường tôi cùng với cây đàn ghi- ta, họ hát cho tôi nghe những bản tình ca của Trịnh Công Sơn.Vì ai cũng biết đàn và hát rất hay nên họ cứ thay nhau hát cho tôi nghe. Thậm chí anh Minh còn kể cho tôi nghe rất nhiều về bến Ninh Kiều thơ mộng nữa. Nhờ có họ, tôi cảm thấy hạnh phúc vô cùng.
Chỉ còn vài ngày nữa là tôi được ra viện vì vết thương đã lành. Hai tháng trời nằm bẹp một chỗ, chán ngắt. Tôi thấy sung sướng vì bây giờ có thể nhúc nhắc đi lại, tự mình có thể làm được mọi việc không phải nhờ cậy ai nữa. Tôi định chờ mọi người ngủ trưa xong sẽ ra ngoài xem thành phố Phnômpênh bây giờ ra sao. Khi tôi tỉnh giấc, bật ngồi dậy nhìn chai nước truyền đã hết, tôi dứt kim truyền dịch ra khỏi tay rồi đứng dậy. Tôi vừa đứng lên thì mọi người nhốn nháo thức dậy cả, có tiếng hét đến ù cả tai tôi:
- Này... này ông kia.... Anh Tuấn! anh đi đâu đấy? Đứng yên, đứng yên!
- Ơ hay? Tôi đi giải, rồi đi loanh quanh một tí - Tôi ngơ ngác đáp.
Anh Minh cùng mấy nữ y tá hình như nghe thấy ồn ào cũng vừa tới giữ chặt tôi làm tôi đâm ra hoảng sợ thật sự. Tôi lắp bắp:
- Có việc gì thế? Sao lại giữ tôi?
- Tôi lạy ông! - Bác sĩ Hải nói - Ông nằm từ hôm nọ tới giờ là năm ngày mê man bất tỉnh rồi. Chúng tôi cứ tưởng ông không thể qua khỏi, đã phải tiếp cho ông tám chai nước rồi đấy. Ông đứng dậy được là may phước lắm rồi, nhưng xin ông đừng có đi đâu cả.
Tôi sững người một lúc và hiểu ra vấn đề. Cái chết đã bỏ qua tôi hay nói đúng hơn nó đã thua tôi. Phải. Năm ngày không biết gì thì coi như đã chết còn gì?
15 năm sau.
Sau ba tháng nằm viện tôi chỉ còn có 42kg, người bé tí tẹo. May sao, sau đó tôi đã hồi phục nhanh chóng. Sư đoàn cho tôi nghỉ an dưỡng thêm một tháng nữa, đến tháng 11 năm 1979 tôi lại cùng anh em lên đường hành quân ra biên giới phía bắc để tạm biệt Campuchia, kết thúc hai năm ròng rã chiến đấu với bao nhiêu gian khổ, hy sinh và mất mát.
Tôi ra quân và đi làm, nhưng hầu như những ngày đầu ra quân, đêm nào
tôi cũng có những giấc mơ đầy sợ hãi về những trận đánh. Còn ban ngày, nếu chẳng may tôi nhìn thấy máu là tôi bị ngất ngay lập tức. Tôi không rõ đấy có phải là hội chứng chiến tranh hay không?
Cho dù bây giờ tôi không còn sợ máu như trước thì một bên tai tôi luôn có một thứ tiếng gì đó rả rích như tiếng ve kêu. Chẳng biết trong số đồng đội của tôi còn sống đến bây giờ có ai có cảm giác giống tôi hay không? Chỉ biết rằng những chi tiết về cuộc đời lính biên giới Tây Nam đã ăn sâu vào tâm trí tôi, có lẽ nó sẽ không bao giờ phai mờ...
... và 20 năm sau
Tôi không còn bị hoảng loạn mỗi lần nghe tiếng gì đó giống tiếng đạn pháo nữa. Tôi liên lạc được với gia đình Vinh Tây và đến thăm bố mẹ Vinh đúng ngày giỗ của nó.
Trước đó tôi đã cùng các đồng đội tìm gia đình Vinh Tây rất nhiều lần mà không được. Lần này, tôi mang theo cả sợi dây chuyền vàng năm xưa mà Vinh đã năn nỉ nhờ tôi giữ giúp trước ngày nó mất để trao lại cho bố mẹ Vinh. Hai bác cảm động, cầm sợi dây chuyền kỷ vật của con trai mình trên tay ứa nước mắt trước sự chứng kiến của Nghĩa “già”, Tâm và Phúc...
Nghẹn ngào nhìn khói hương nghi ngút trên bàn thờ thằng bạn đồng đội của mình tôi thầm nghĩ, mình nhất định phải viết lại những kỷ niệm về cuộc chiến tranh mà chúng tôi đã trải qua rất bi hùng này...


