Chuyện của người lính trinh sát năm xưa “Ăn cơm bờ Bắc, đánh giặc bờ Nam” p1
Được mệnh danh là những người lính “đi không dấu” cùng mệnh lệnh “Gian khó không sờn lòng, hiểm nguy không lùi bước, đoàn kết cùng quyết tâm, luôn sẵn sàng chiến đấu” đã tạo nên phẩm chất của người lính trinh sát năm xưa, ông là một cựu chiến binh đã vinh dự được 5 đời Chủ tịch nước trao tặng huân, huy chương.
Bên ngôi nhà nhỏ, đơn sơ, cựu binh Hà Văn Khánh chậm rãi kể rõ ràng, rành mạch những ký ức, những năm tháng về một thời hoa lửa, một thời hào hùng của ông. Cựu chiến binh Hà Văn Khánh sinh ngày 27/7/1929, năm 1948 khi vừa tròn 19 tuổi có đợt tuyển quân ở địa phương, theo tiếng gọi thiêng thiêng của Tổ quốc, ông đã tình nguyện đăng ký lên đường làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Sau khi tuyển chọn, ông được phân công đi học tại Trường Đào tạo sỹ quan liên khu 4. Đầu năm 1949, sau khi học xong ông được điều động về Phòng tham mưu, Đại đội 203, Đại đoàn 325 là một trong 6 đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đến cuối năm 1949, khi thực dân Pháp mở rộng vùng chiếm đóng, phá thế liên hoàn của ta, nhận thấy ông là người có nhiều tố chất phù hợp với hoạt động tình báo nên đơn vị đã phân công ông về nằm vùng ở Bắc Thừa Thiên Huế. Sau gần 1 năm, trước tình hình thế giới có nhiều chuyển biến tích cực, có lợi cho cuộc kháng chiến của quân và dân ta, Đảng ta đã đề ra nhiệm vụ chuẩn bị lực lượng để chuyển sang tổng phản công, lúc này ông được phân công ra Quảng Trị, nằm vùng ở nhà thờ giáo La Vang, là một trung tâm hành hương lớn của người Công giáo Việt Nam thời đó. Uống vội chén trà xanh mới hãm, Cựu binh Khánh tiếp tục câu chuyện.
Nhiệm vụ của lính trinh sát luôn được quán triệt: “Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”, nên quá trình hoạt động ông luôn xác định phải “tai thính, mắt tinh, mũi nhạy”, đặc biệt phải thật gan dạ, trong hoàn cảnh nào cũng không lùi bước trước quân thù. Để hoạt động một cách thuận lợi nhất trong vùng địch, không bị địch và người dân địa phương nhận ra mình, ông phải nhanh chóng thích nghi với phong tục, tập quán của vùng đất Quảng Trị. Ban ngày ông cải trang trà trộn vào dân làm đủ thứ nghề từ chăn trâu, cắt tóc, lái xe…Ban đêm vào Thị xã để nắm tình hình địch.
Năm 1952 khi lực lượng vũ trang Quảng Bình bắt đầu mở nhiều cuộc tiến công vào các vị trí quan trọng của địch, ông được chuyển ra nằm vùng, nắm tình hình ở sân bay Đồng Hới, thời gian này ông bám địch, bám dân nắm chắc tình hình kẻ thù và các mặt liên quan, làm cơ sở hạ quyết tâm cho lực lượng của ta tác chiến, kịp thời xử trí các tình huống.
Từ những thông tin quan trọng của ông, đã góp phần giúp lực lượng vũ trang Quảng Bình chủ động mở nhiều cuộc tiến công vào các vị trí quan trọng của địch trên tuyến phía Bắc, giải phóng Sen Bàng, Ba Đồn, Mỹ Hoà, mở rộng vùng tự do. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, tháng 9/1953, đơn vị của ông nhận lệnh tập trung rút về huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh để chỉnh quân.


