CON ĐƯỜNG NHỎ CỦA TÔI...
Đoạn hồi ký kể về cuộc đời hoạt động cách mạng của bà Cao Bích Thu từ trước Cách mạng tháng Tám đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Sinh ra trong gia đình khá giả ở Hà Nội, bà từng đi tu khi còn trẻ nhưng sau đó được giác ngộ cách mạng và tham gia các hoạt động của Việt Minh. Bà cùng chồng tham gia truyền bá quốc ngữ, tuyên truyền cách mạng và tổ chức cứu đói cho nhân dân trong nạn đói năm 1945. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công và cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, bà tham gia công tác c
Ở Hà Nội, gia đình tôi có thể nói là một gia đình khá giả. Tôi đi học bao giờ cũng có kẻ đón người đưa, thậm chí có cả ô tô nữa. Song không hiểu vì sao tôi vẫn không tìm thấy niềm vui trong cuộc sống, bên cạnh đó mẹ tôi lại là người sùng đạo Phật nên những khi mẹ con tụng kinh niệm Phật, người thường bảo tôi ngồi bên cạnh cùng nghe, rồi nhiều khi mẹ lại bảo tôi đọc với người những bài kinh đã được dịch và in bằng chữ quốc ngữ sau những giờ phút tụng kinh niệm Phật như thế mẹ tôi còn thường giảng giải cho tôi nghe bằng những câu chuyện về cuộc đời từ bi, đức độ, chuyên lòng vào việc thiện, mong cứu vớt được chúng sinh ra khỏi biển trầm luân, để siêu sinh tịnh độ lên được cõi Niết bàn của Thích Ca Mâu Ni, của Phật tổ Như Lai…
Tất cả những cái đó như một chất men vô hình, thấm đượm vào cuộc đời tẻ nhạt của tôi làm tôi choáng váng và cũng chính cái chất men vô hình ấy đã dẫn tôi tới một hành động không lấy gì làm lạ vào thời buổi bấy giờ là tôi cắt tóc đi tu, quy y đầu phật.
Tôi ở chùa, sống cuộc đời khổ hạnh như trăm ngàn người tu hành khác, nhưng trong lòng lại thấy thảnh thơi, nhẹ nhõm trước con đường (lầm lạc) mà tôi đã chọn. Năm đó là năm tôi vừa ở tuổi dậy thì, mười sáu mười bảy tuổi.
Nhưng rồi một chuyện khác hoàn toàn vô tình và bất chợt đã kéo tôi trở lại cuộc đời thường. Câu chuyện khởi đầu bằng một hôm có một đoàn hướng đạo sinh đến cắm trại ở gần ngôi chùa tôi tu hành và có một hướng đạo sinh đi vào chùa. Gặp tôi anh bắt chuyện làm quen, anh hỏi tôi nhiều chuyện và tôi cũng nói cho anh nghe nhiều điều. Anh tỏ vẻ tiếc cho tôi rằng một cô gái khỏe mạnh, có được học hành chữ nghĩa mà lại từ bỏ mọi thứ, cắt tóc đi tu, tách mình ra khỏi cuộc sống, bỏ mặc cho đất nước trong vòng chìm nổi lênh đênh, trong lúc đáng ra phải góp một tay vào việc xây dựng lại nó.
Câu chuyện tưởng như vui mồm bất chợt hôm đó đã để lại cho tôi nhiều suy nghĩ. Và những câu chuyện sau buổi đầu tiên đó của anh còn để lại cho tôi nhiều điều đáng suy nghĩ hơn. Rồi anh đã bắt đầu tin tôi và đưa sách báo cách mạng cho tôi đọc. Quả thực là qua anh tôi đã biết những điều sơ đẳng nhất về phong kiến, đế quốc, về Các Mác, Lê nin, về cách mạng, về thực dân Pháp và về những người dân mất nước sống cuộc đời nô lệ…
Và rồi cuối cùng nghe theo anh, tôi phá giới, bỏ chùa để trở lại cuộc đời thường. Tôi từ bỏ cuộc đời tu hành cũng dễ dàng như khi tôi đến với nó, bởi lẽ tôi thấy cái ánh sáng dù chỉ là le lói trên con đường tôi mới chọn rõ ràng là sáng sủa hơn con đường cũ mà tôi đã lầm lạc bước vào. Đó là năm 1943.
Tôi phá giới nhưng tôi không trở lại sống với gia đình. Tôi xin vào làm nữ hộ sinh trong nhà thương tư của bác sĩ Đặng Vũ Lạc ở 92 phố Trần Hưng Đạo bây giờ. Tôi đã làm hết tất cả mọi việc cần thiết của một nữ hộ sinh cần làm để được bác sĩ yêu mến mà truyền nghề cho. Tôi ở luôn trong bệnh viện và ăn ở tại đó để có nhiều thì giờ hơn chăm sóc sản phụ và cũng chẳng bao lâu tôi trở thành một cô gái đỡ đẻ có nghề.
Cũng trong thời kỳ này tôi kết hôn với người bạn trai đầu tiên của tôi, anh Nguyễn Bá Khoán người đã lôi kéo được tôi ra khỏi ngôi chùa khổ hạnh và dẫn tôi đến với cách mạng, vì chính anh cũng là một trong những người hoạt động cách mạng ở Hà Nội thời đó. Anh là một nhiếp ảnh viên có tài, với chiếc máy ảnh cũ kỹ cỡ 6×6 cộng với lòng nhiệt thành cách mạng anh đã chụp được nhiều ảnh tư liệu quý ngay từ những ngày đó và cho đến ngày Cách mạng thành công kể cả những ngày nổ ra cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp tại Hà Nội. Cho đến nay nhiều ảnh đó của anh đã được để trong viện bảo tàng và vẫn được sử dụng trên báo chí. Chính tôi là người in tráng những phim ảnh ấy cho anh và giữ gìn bảo quản những phim ảnh ấy suốt trong cuộc trường kỳ kháng chiến.
Anh là người hoạt động cách mạng và anh cũng đã không ngần ngại lôi kéo tôi vào những công việc. Về công khai, tôi tham gia vào việc dậy "truyền bá quốc ngữ" ở An Dương, về bí mật, tôi tham gia vào công việc tuyên truyền, đi dán truyền đơn, biểu ngữ kêu gọi nhân dân ủng hộ Việt Minh và tham gia vào Việt Minh để chuẩn bị cướp chính quyền.
Cũng chính vào cái năm 1945 đó, do Nhật Pháp thi nhau vơ vét thóc gạo của nông dân để đổ vào cuộc chiến tranh nên đã gây ra một nạn đói khủng khiếp cho dân ta. Cái nạn đói ấy những người thuộc vào tuổi tôi bây giờ không ai là không nhớ, người chết đói đầy đường đầy chợ, không chỗ nào là không gặp cảnh chết ấy. Người ta đem quẳng cả những người con đang sống ngắc ngoải lên xe bò đem đi chôn một thể trong những hố chung.
Hai vợ chồng tôi được đoàn thể giao cho một nhiệm vụ có thể gọi là quan trọng lúc bấy giờ là đứng ra lập một trại cứu đói ở Giáp Bát để "cấp cứu" đồng bào mình. Đứng ra lập trại nhưng đoàn thể chẳng có tiền và bản thân chúng tôi cũng chỉ có hai bàn tay trắng, nhưng một khi đoàn thể đã giao nhiệm vụ và chúng tôi đã nhận nhiệm vụ thì chúng tôi làm. Trại cứu đói là những gian nhà bỏ hoang đã từ lâu, vẫn không hề được sửa chữa lại mà chỉ được quét dọn cho sách những rác rưởi, bùn nước lưu cữu ứ đọng từ lâu để cho nạn nhân tạm thời tránh nắng tránh mưa thôi vì điều cốt yếu lúc bấy giờ là làm sao mỗi ngày mỗi người có được bát cháo cố sống cho qua được những ngày đói kém. Để có được bát cháo bát cơm ấy chúng tôi phải đến những nhà giàu có, còn được bát ăn bát để, kêu gọi lòng từ nghĩa, nghĩa đồng bào với những lời lẽ của cha ông để lại như: Một miếng khi đói bằng một gói khi no, như là lá lành đùm lá rách, như nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng, như thương người như thể thương thân vân vân, để cho họ ít gạo, ít tiền làm phúc, đem về duy trì mức sống thoi thóp cho những người bị đói bỏ làng mạc quê hương đến trú chân tại đó.
Trong những ngày ở trại cứu đói mà lúc bấy giờ nhiều người thường quen miệng gọi là "Trại Ăn mày" ấy tôi làm việc không nề hà giờ giấc. Cứ chạy được gạo là về tôi lại quay ra nấu cháo ngay. Đối với những người mới đến trại, đói lả sắp chết, tôi kiên nhẫn bón từng thìa nước cháo cho từng người một. Đối với người sức khỏe còn khá hơn tôi giúp họ bắt chấy bắt rận nhung nhúc trên đầu và xếp thành hàng dài dọc theo mép những chiếc bao tải rách mà họ khoác trên người. Ngày ấy, một phần do sức khỏe tôi và phần quan trọng hơn là tôi đã được giác ngộ về tình máu mủ đồng bào cũng là máu đỏ da vàng với nhau nên tôi làm việc không biết mệt mà không hề sợ hãi trong khi bệnh chấy rận đang hoành hành ở khắp nơi.
Trại cứu đói Giáp Bát của chúng tôi đã kéo dài được tới gần ngày Tổng khởi nghĩa, khi ấy nạn đói cũng đã qua khỏi và công việc cách mạng trước mặt đòi hỏi ở chúng tôi nhiều thời gian hơn vì nhà riêng của vợ chồng tôi đã trở thành cơ sở cho một số cán bộ bí mật đi về. Ở nhà tôi luôn luôn được các đồng chí đó tổ chức những cuộc họp và những lớp huấn luyện cấp tốc, khi ấy tôi trở thành người canh gác, bảo vệ cho những cuộc họp và những lớp huấn luyện được trọn vẹn an toàn, tôi chưa hề để xẩy ra một việc đáng tiếc nào cho các đồng chí ấy ở lại nhà tôi.
Lúc đó vợ chồng tôi đã sinh được một cháu gái đầu lòng, tuy bận con mọn, nhưng tôi vẫn không hề sao nhãng công việc của đoàn thể. Dưới nôi của con gái tôi, bao giờ tôi cũng cất giấu những lá cờ, những tập truyền đơn chuẩn bị cho ngày Tổng khởi nghĩa.
Về những ngày tiền khởi nghĩa này, đồng chí Hoàng Mười cán bộ của Bộ Ngoại Giao đã ghi cho tôi những dòng sau đây vào ngày 29-3-1977 để kèm theo hồ sơ hưu trí của tôi vì ngày đó tôi làm việc trực tiếp với đồng chí ấy:
"… Tháng 3 năm 1945, trong thời kỳ tiền khởi nghĩa ở Hà Nội, tôi có liên lạc với gia đình chị Thu, đã giác ngộ và kết nạp chị vào tổ chức Thanh Niên cứu quốc.
Lúc này tôi làm bí thư thanh niên của thành phố. Chị Thu cùng chồng làm việc trực tiếp với tôi. Ngoài những công việc bình thường của một quần chúng cứu quốc, chị đã dành nhà riêng của mình, tổ chức, bố trí canh gác cho một số buổi họp và lớp huấn luyện ngắn ngày.
Trong những ngày khởi nghĩa, chị Thu cũng có phần đóng góp của mình. Khi cách mạng thành công, tôi đã chuyển chi qua sinh hoạt với hội Phụ Nữ…"
Và một đồng chí khác cũng ghi cho tôi những dòng sau:
"… tôi là Lê Đình Thi, cán bộ tòa án Nhân dân tối cao chứng nhận chị Cao Bích Thu là gia đình cơ sở cách mạng thời kỳ bí mật (từ tháng 3 năm 1944 Cách mạng tháng Tám đã hoạt động trong đội Tuyên truyền xung phong, phát báo Cứu Quốc, báo cờ Giải Phóng cho mặt trận Việt Minh thời kỳ chống Pháp Nhật.
Sau cướp chính quyền, chị được bầu làm Ủy viên lâm thời huyện Phú Xuyên tỉnh Hà Đông.
Từ năm 1946, Toàn quốc kháng chiến, chị Thu tham gia công tác y tế ở mặt trận Thủ Đô và liên tục làm công tác y tế ở hậu phương Liên Khu 3 cho đến ngày hòa bình lập lại…"
Được phép Chính Phủ ta, Pháp đưa quân vào Hà Nội và được đóng quân trên một số địa điểm nhất định để thay thế quân Tưởng đồng minh, nhưng với âm mưu chiếm lại thủ đô, chiếm lại đất nước ta nên bọn lính mũ đỏ được bọn chỉ huy của chúng bật đèn xanh tràn ra phố gây những vụ khiêu khích đổ máu để lấy cớ châm ngòi lửa chiến tranh.
Hà Nội vô cùng nhộn nhạo. Đàn bà con trẻ và những người không có nhiệm vụ gìn giữ thủ đô được sơ tán. Trong tình hình đó, vừa là để giữ an toàn vừa là để thêm có thì giờ hoạt động tôi cũng đã gửi đứa con gái đầu lòng duy nhất lúc đó của chúng tôi về quê nhờ bác cháu nuôi hộ.
Nhưng rồi một hôm chồng tôi bàn:
- Tình hình hiện nay rất không an toàn, chiến tranh không biết sẽ nổ ra lúc nào, hay là bây giờ em về quê nuôi con, để mình anh ở lại Hà Nội tham gia chiến đấu là đủ.
Nghe anh nói vậy, tôi hoàn toàn thông cảm với anh, tôi biết xưa nay anh không bao giờ có chuyện bàn lùi, và anh cũng hiểu tôi vốn không phải là người nhút nhát nhưng anh nói thế là anh chỉ nghĩ đến sự an toàn của tôi và tình hình sức khỏe của đứa con đang ở xa, thêm vào đó, tất cả đàn bà con trẻ ra khỏi thành phố thì tôi có về quê với cũng là hợp lẽ, hơn nữa khi đã có tôi bên cạnh cháu anh sẽ yên lòng để tham gia chiến đấu hơn. Và chính tôi cũng hiểu rằng, không có một người mẹ nào lại muốn sống xa con cái mình nhất là khi đứa trẻ còn măng sữa rất cần đến hơi ấm của bầu ngực mẹ mình. Song tôi cũng từng được các đồng chí hoạt động cũ kể cho nghe rằng: Trong những ngày chưa cướp được chính quyền, có một đồng chí nữ giao liên đã cắn răng đem cho đứa con mình vừa rút ruột đẻ ra để bảo đảm công tác của đoàn thể. Còn tôi mới chỉ phải xa con quả thật nhiều lúc tôi đã thấy lòng dạ bồi hồi, ngồi đứng không yên, mỗi khi như vậy tôi lại cố nghĩ về chị nữ giao liên ấy, lấy chị làm tấm gương sáng cho mình và lại thêm một lần nữa thán phục tinh thần quả cảm của chị, biết cọn lấy lợi ích cao nhất trong nhiều lợi ích đang bầy ra trước mắt mình bắt mình phải lựa chọn, chỉ lấy một chứ không được phép lấy hai.
Nghĩ vậy, nhưng tôi chỉ nói với chồng tôi:
- Em phải thú nhận với anh rằng, không có một người mẹ nào muốn xa con dù một bữa hay một ngày, nhưng như anh đã biết đấy, em bé nhà mình ở với bác, được bác nó chăm sóc nuôi nấng thật tận tình, chu đáo cho nên em rất yên tâm về con. Bởi thế em nghĩ anh để em ở Hà Nội để cùng tham gia chiến đấu với anh. Em có nghề thuốc, em có thể làm cứu thương…
Tôi nói vậy và chồng tôi cũng không cản tôi nữa.
Tôi tham gia hội Chữ Thập đỏ Việt Nam (ngày ấy còn gọi là hội Hồng Thập Tự) rồi tham gia Trung đoàn Thủ Đô.
Tôi được cử đi học lớp cứu thương đầu tiên của ta chỉ có 6 học viên do bác sĩ Tôn Thất Tùng trực tiếp hướng dẫn.
Lúc này cuộc kháng chiến toàn quốc của nhân dân ta đã bùng nổ và tôi được điều về bệnh viện Bạch Mai. Ở đây tôi tham gia điều trị cho các chiến sĩ bị thương từ mặt trận chuyển về. Song không phải tôi chỉ làm việc ở bệnh viện mà cứ mỗi khi có một cuộc chiến đấu nổ ra, và khi ngớt tiếng súng, nhiều khi tiếng súng vẫn nổ ròn thì tôi đã lần tới đó để tiến hành sơ cứu và chuyển các chiến sĩ bị thương trở về.
Thực tình, cho đến bây giờ nhiều khi tôi vẫn cứ ngỡ ngàng tự hỏi, ngày ấy tôi nhờ được sức mạnh nào mà tôi ôm chầm lấy một chiến sĩ vừa bị thương trước mặt tôi rồi cùng với anh, tôi lăn đi nhiều vòng dưới làn pháo đạn của địch để đưa được anh an toàn trở về bệnh viện, và không biết nhờ được sức mạnh nào mà một người con gái Hà Nội như tôi có thể đi qua mỗi chiếc cầu chỉ được bắc bằng một thanh ray tàu lửa, trơ trọi không tay vịn để sang mặt trận Việt Nam học xá thăm thương binh và chiến sĩ trong khi trên đó đang bị đốt cháy, lửa khói bốc ngút trời. Không biết nhờ được sức mạnh nào mà người con gái e lệ, nhút nhát bỗng trở nên hoạt bát tìm ra được hàng trăm thứ chuyện để hỏi, để nói với người chiến binh nằm trên bàn mổ để quên đau, quên sợ khi bác sĩ Tôn Thất Tùng mổ cho anh không có thuốc mê và không có cả thuốc tê?
Phải chăng đó là lòng căm thù trước những tội ác mà thực dân Pháp đã gây ra cho đồng bào tôi trước mắt tôi. Tôi đã từng chứng kiến cảnh giặc tàn sát đến bảy người trong gia đình, cảnh chúng nhằm súng vào bụng bắn chết một chị phụ nữ có mang tám tháng sắp đến ngày sinh nở, và cảnh trước đó, trong trận đói một đứa trẻ gầy guộc như que củi khô bò ngều ngào trên bộ ngực trơ tóp đã trở thành xám xịt, lạnh cứng, nhay mút bầu vú của người mẹ đã chết đói từ lâu?
Phải chăng sức mạnh ấy đã lấy được từ lời kêu gọi kháng chiến của Cụ Hồ trong khi chăm sóc thương binh giữa chiến hào và cùng ăn với các anh một nắm cơm, mà giữa ruột đã có sẵn một dúm muối vừng rang mặn?
Có thể là tất cả, tất cả!
Chỉ sau năm ngày chiến đấu, bệnh viện Bạch Mai hồi đầu bị giặc bắn phá mặc dù đó là điều cấm trong luật lệ chiến tranh. Bệnh viện và bệnh nhân buộc phải rút ra ngoài.
Tôi được giao đi làm tiền trạm với hai nhiệm vụ chuẩn bị địa điểm mới và xin dân quân đi cáng thương binh, bệnh binh, vì lúc đó giao thông vận tải hoàn toàn tê liệt, không còn xe cộ gì hết.
Một mình tôi đi từ Phương Liệt theo đường số Một về Văn Điển với hai bàn tay trắng, cùng chiếc túi nhỏ trên vai trong đó có một tờ giấy giới thiệu một cách chung chung do đồng chí Đào ký (Đồng chí Đào nguyên là thứ trưởng bộ Ngoại thương nay đang làm việc tại Ban Kinh Tế thuộc Trung Ương Đảng). Tờ giấy giới thiệu ấy tôi vẫn còn giữ được tới bây giờ nguyên văn như sau:
Ủy Ban Kháng chiến Hành chính khu II thành Hoàng Diệu trân trọng giới thiệu bà Cao Bích Thu, 23 tuổi, trong hội Hồng Thập tự Việt Nam đã được bác sĩ Quân cục trưởng đề cử phụ trách, việc trông nom các chiến sĩ bị thương ở bệnh viện Bạch Mai và tổ chức việc cứu chữa các chiến sĩ từ tiền tuyến về hậu phương điều trị.
Ủy ban Kháng chiến Hành chính bảo vệ thành Hà Nội trân trọng giới thiệu bà Cao Bích Thu với U.B.KC.H.C các khu hết sức giúp đỡ bà Cao Bích thu về mọi phương tiện để bà thi hành nhiệm vụ được dễ dàng



