Bài viết

Cộng sản giỏi thật

Cuối năm 1931 đầu năm 1932, khi phong trào Xô-viết Nghệ - Tĩnh và phong trào đấu tranh ở nhiều nơi trong nước bị đàn áp dã man tạm lắng xuống, hàng vạn cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên, cộn sản, tự vệ, và những người yêu nước bị bắt, bị tù đày, kẻ địch tuyên bố : “Cộng sản đã bị tiêu diệt”. Chính quyền tên toàn quyền Pi-e Pa-ski-ê trong hội nghị của chính phủ thực dân Đông Pháp đầu tháng 12-1931cũng huyênh hoang nói là tất cả cán bộ Đảng đã bị bắt, chỉ còn một nhúm Đảng viên thường, trung

Hà Tĩnh09/04/2026Hồng Liên (Quân Sự)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cuối năm 1931 đầu năm 1932, khi phong trào Xô-viết Nghệ - Tĩnh và phong trào đấu tranh ở nhiều nơi trong nước bị đàn áp dã man tạm lắng xuống, hàng vạn cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên, cộn sản, tự vệ, và những người yêu nước bị bắt, bị tù đày, kẻ địch tuyên bố : “Cộng sản đã bị tiêu diệt”. Chính quyền tên toàn quyền Pi-e Pa-ski-ê trong hội nghị của chính phủ thực dân Đông Pháp đầu tháng 12-1931cũng huyênh hoang nói là tất cả cán bộ Đảng đã bị bắt, chỉ còn một nhúm Đảng viên thường, trung thành với học thuyết của Lê-nin nhưng đã mất tinh thần, không hoạt động gì có hiệu quả.

Chúng lầm, Đảng cộng sản Đông dương của chúng ta không bị tiêu diệt và không thể bị tiêu diệt.

Ở Cao Bằng, trong những năm 1930 – 1931, thanh niên chưa có hoạt động gì lớn lắm, nhưng được sự lãnh đạo và giáo dục của Đảng bộ - tổ chức Đảng đầu tiên ở Cao Bằng, thanh niên đã có những cuộc đấu tranh lẻ tẻ. Thanh niên công nhân mả thiếc Tĩnh Túc tham gia rải truyền đơn, treo cờ đỏ ở mỏ nhân những ngày kỷ niệm quốc tế ; thanh niên nông thôn chống các tệ tục, chống nạn hà lạm, sách nhiễu của cường hào ; thanh niên người Tày ở trường tiểu học thị xã Cao Bằng bãi khoá bỏ học để phản đối giáo dục nô dịch và nhồi sọ. Được Đảng giáo dục lòng yêu nước, chúng tôi ghét bọn đế Pháp cướp nước ta, chúng tôi không muốn học cả chữ Pháp.

Thi hành các nghị quyết của hội nghị Trung ương Đảng lần thứ nhất (tháng 10-1930) và hội nghị Trung ương Đảng lần thứ hai (tháng 3-1931) về công tác vận động thanh nie6 và tổ chức đoàn thanh niên cộng sản, Đảng bộ Cao Bằng từ giữa năm 1931 tích cực chuẩn bị cho việc thành lập Đoàn ở Cao Bằng. Khoảng tháng 7, tháng 8-1931, Đảng cử sáu thanh niên sang Long Châu (Trung Quốc), (Đảng bộ Cao Bằng có sự liên lạc mật thiết với Đảng bộ Đảng cộng sản Trung Quốc ở Quảng Tây và được Đảng anh em giúp đỡ nhiều) dự lớp huấn luyện chính trị do một số cán bộ Đảng ta công tác ở đó mở, để về tổ chức Đoàn thanh niên. Lớp do hai đồng chí Hoàng Văn Thụ và Hoàng Đình Rong tức Văn Tư phụ trách. Đến cuối năm 1931 đầu năm 1932 thì tồ chức Đoàn thanh niên cộng sản chính thức được thành lập ở Cao Bằng, đầu tiên là ở huyện Hoà An. Một số thanh niên nông dân và học sinh người Tày chúng tôi sau khi được tuyên truyền và thử thách đều được kết nạp vào Đoàn trong dịp này. Trong số những thanh niên đầu tiên được kết nạp vào Đoàn có cả mấy nữ thanh niên 16,17 tuổi. Bản thân tôi được đồng chí Sầm Sơn, một đảng viên và bạn cùng học, tuyên truyền và thử thách công tác. Tôi nhớ lần đầu tiên được làm một công tác cách mạng là ngày 1-5-1931. Hôm đó đồng chí Sầm Sơn giao cho tôi việc cắm cờ trên đồn lính tây ở thị xã. Lòng hồi hộp và thích thú, tôi đã cắm được ở nơi Đảng yêu cầu. Mấy tháng sau khi được kết nạp vào Đoàn, do hoạt động hăng hái, tôi được kết nạp vào Đảng và được Đảng giao cho công tác thanh niên.

Tổ chức Đoàn ở Cao Bằng lúc ấy như thế nay : thôn có tổ, các tổ ở mấy thôn gần nhau họp lại thành liên tổ, xã có chi bộ đoàn, tổng có tổng uỷ đoàn, huyện có huyện uỷ đoàn… huyện uỷ đoàn Hoà An được thành lập năm 1932. Tôi được Đảng cử vào huyện uỷ và được phân công cùng một số đồng chí khác phụ trách công tác giao thông liên lạc của Đảng, đồng thời phụ trách phong trào ở một số xã. Trong phạm vi tôi được phân công, có thị xã Cao Bằng. Tấ cả các cán bộ huyện uỷ đoàn lúc bấy giờ đều bán thoát ly, vừa tham gia sản xuất với gia đình, vừa tham gia công tác Đoàn.

Tôi còn nhớ hôm được kết nạp vào Đoàn, chúng tôi đã thề không ngại khó khăn, nguy hiểm, hết sức làm tròn nhiệm vụ, tận tuỵ, hy sinh vì sự nghiệp của Đảng, của Đoàn. Đảng bảo chúng tôi : “Thanh niên cộng sản phải xung phong trong mọi công tác”. Đảng rất tin cậy thanh niên. Bây giờ các bạn thanh niên được kết nạp vào Đoàn không thể như chúng tôi ngày trước nhưng có hứa trước Đảng, trước Đoàn. Nội dung, theo chỗ tôi biết, cũng tương tự như lời thề của lớp đoàn thanh niên chúng tôi năm xưa. Lời thề hy lời hứa đều là lời nói danh dự của thanh niên cộng sản Cao Bằng chúng tôi đã cố gắng làm như lời thề của chúng tôi lúc mới vào Đảng.

Nguyên tắc bí mật lúc ấy rất chặt chẽ, bí mật với cả người thân nhất nếu không có quan hệ công tác. Anh thứ hai tôi là đảng viên nhưng tôi không được biết, Anh tôi cũng không biết tôi là đqàn viên, đảng viên và làm công tác gì. Không bí mật để kẻ địch mò ra được tổ chức sẽ bị chúng khủng bố ngay. Do đó cán bộ cũng chỉ được biết công việc trong phạm vi mình phụ trách, những việc mình được tham gia hay bàn bạc, cho nên tôi không biết được nhiều và cụ thể công tác của các đồng chí đoàn viên, cán bộ khác trong huyện, trong tỉnh. Nhưng biết chắc là mỗi người lúc ấy đều có một hai công tác cụ thể do Đảng, do Đoàn giao cho. Nhiều sự việc do lâu ngày quá cũng không nhớ được rõ ràng, nhất là ngày tháng.

Nhiều đoàn viên chúng tôi được Đảng giao cho việc dạy chữ quốc ngữ cho những thanh niên chưa biết chữ qua lớp học mà tuyên truyền giác ngộ học. Ban ngày mọi người đều làm đồng hoặc đi lên rừng lấy lâm sản. Lớp học phải mở vào buổi tối. Vận động nam thanh niên đi học tương đối dễ hơn, mặc dù một số anh em lúc đầu cũng hơi ngần ngại, có anh em nói : “Chịu thôi 16, 17 tuồi đầu mà đi học a, bê, xê (a, b, c) thì ngượng lắm”. Cái ngượng đó dễ vượt qua vì căn bản là anh em thích học. Có anh em bị nhà ngăn trở, đi học nhưng nói dối là đi chơi, các cụ không nói gì nữa. Hồi ấy thật là lạ, con đi tán gái thì không cấm nhưng đi học thì lại không đồng ý. Vận động nữ thanh niên đi học mới khó, nhất là vấp phải sự ngăn trở của một số cụ già cũ kỹ. Các cụ bảo : “Con gái đi học biết chữ để viết thư cho giai à ?”. Đoàn viên phải kiên trì giải thích cho chị em hiểu cái lợi của việc học, đồng thời thuyết phục các cụ. Chị em nghe ra, có cụ cũng nghe ra, nhưng có cụ vẫn khăng khăng không cho con gái đi học, lại có cả những ông anh còn trẻ tuổi mới 30, 35 tuổi tưởng dễ tiếp thu cái mới thế nào mà cũng không cho em gái đi học. Đến bực ! Có đoàn viên bàn với chị em tối cứ trốn đi học. Có chị em vì thế mà bị bố mẹ đánh thâm tím cả người thật là tội ! Ở lớp học, các “cậu giáo” đoàn viên vừa dạy học,vừa tuyên truyền cách mạng. Có nhiều “học trò” sau được kết nạp vào Đoàn. Các lớp học buổi tối đó mở được một thời gian thì bị địch cấm. Kẻ địch không muốn cho thanh niên ta được học. Còn có thể là chúng đã đánh hơi thấy ta có tuyên truyền cách mạng trong lớp học mà điều này chúng lại sợ hơn hết, sợ như cú sợ ánh sáng.

Đoàn viên cũng thường được Đảng giao cho công tác giao thông liên lạc. Để che mắt địch, đoàn viên đi liên lạc thường phải cải trang luôn, lần này mặc bộ quần áo này, lần sau mặc bộ khác, có khi cần đến quần áo diện nữa. Nhưng lấy đâu ra lắm thế ? Nam nữ thanh niên người Tày, người Nùng chúng tôi thường chỉ có quần áo chàm thôi, mà may một kiểu giồng nhau, có đổi cho nhau cũng không khác gì, có khác chăng chỉ là ở cũ mới. Kết hợp với yêu cầu cần tiền để hoạt động của Đảng, một số đoàn viên bàn nhau góp vốn vay thêm tiền đi buôn lấy lãi cung cấp cho Đảng hoạt động, còn một phần dùng may quần áo các kiểu, cả quần áo lình dõng, để cho các đồng chí liên lạc dùng cải trang khi cần thiết. Tôi là một trong số đoàn viên được làm nhiệm vụ giao thông liên lạc cho Đảng và đã từng đội nón lính dõng đi qua các đổn bốt của địch.

Lần ấy vào tháng chạp âm lịch tôi và đồng chí Khoát được Đảng giao cho nhiệm vụ đón một đồng chì cán bộ Đảng từ biên giới Trung Quốc về nước. Đường phải đi qua các bốt gác của địch ở Gạm Ngần quãng cây số 15 trên đường Cao Bằng – Đông Khê. Bốt này không phải bốt gác thường xuyên của địch, chỉ đến tháng mới có lính dõng gác. Khi đến gần bốt gác, đồng chí Khoát bàn giao các đồng chí cán bộ cho tôi, bảo tôi đóng vai lính dõng giải kẻ không có thẻ để đưa đồng chí cán bộ qua bốt gác. Tôi, tay cầm roi, đầu đội nón lính dõng, còn đồng chí cán bộ thì mặc quần áo chàm cũ như một thanh niên địa phương. Khi đi tới gần bốt gác tôi trói hờ hai tay đồng chí cán bộ lai thỉnh thoảng lại quát giục đi nhanh. Thấy chú lính dõng giải một người bị trói đi qua, bọn lính hỏi :

- Có phải nó ăn trộm không? – Tháng củ mật dạo ấy trộm cướp như rươi, nhất là nạn trộm trâu luôn luôn xảy ra.

- Không phải, nó không có thẻ, lý trưởng bảo tôi giải nó lên tỉnh ngay, không được chậm - Chỗ này thuộc địa phận tỉnh Hoà An mà tôi đi đường Đông KHê thuộc huyện Đông Khê nên phải nói là lên tỉnh. Nếu nói là giải lên huyện thì sẽ lộ ngay vì lên huyện Đông khê phải đi ngược trở lại.

Có tên lính uqen thói đánh người bèn bảo :

- Thế thì phải nện cho nó một trận mới được.

Tôi chưa kịp trả lời thì may quá có anh lính khác đã bảo :

- Không được đánh nó đâu. Có khi lên tỉnh nó được tha thôi. – Và giục – thôi, giải nó đi cho nhanh mà về, kẻo tối vợ ở nhà nó mong.

Anh lính này chắc hẳn không thích cái nghề khổ sai đi gác cho Tây những ngày đông tháng giá này, và chắc đang nhớ cảnh gia đình sum họp bên bếp lửa hồng nên không muốn nhiễu sự.

Thế là tôi đàng hoàng đi qua bốt gác, miệng lại quát anh chàng không có thẻ đáng tình nghi bị trói giải lên quan : “Đi nhanh lên để tao còn về !”.

Cứ thế tôi dẫn đồng chí cán bộ đi đến thị xã Cao Bằng và đi qua thị xã. Qua bốt lính cơ ở thị xã, bọn lính lại hỏi như lính gác ở Gạm Ngần. Tôi bảo chúng : “Bố tôi là lính dõng ở xã bị ốm, lý trưởng bảo tôi đi thay giải nó lên phủ”.

Thị xã Cao Bằng thuộc địa phận tỉnh Hoà An cho nên tôi lại nói là giải lên phủ, phủ đóng ở Nước Hai. Việc của phủ, bọn lính cơ không hơi đâu dâu vào nên cho đi.

Đi đến quãng cây số 3 đường Cao Bằng - Nước Hai, chỗ này váng vẻ, tôi cởi trói cho đồng chí cán bộ, giấu nón lính dõng đi, hai người vội qua sông Bằng Giang về xã tôi. Tôi đưa đồng chí cán bộ lên ẩn ở đền Kỳ Sầm, hôi này còn um tùm, rậm rạp. Tối đến, tôi đưa tiếp đồng chí đến tram liên lạc, vô sự.

Trong công tác giao thông liên lạc, tôi thường đưa công văn, chỉ thị, thư từ của Đảng đến hòm thư đặt ở Cao Bình. Công văn, thư từ quấn lại nhỏ như đầu đũa giắt vào chỗ nào trong người cũng được. Không phải là giao công văn tận tay cho một đồng chí nào mà chỉ đem đến “hộp thư” rồi lấy báo cáo, thư từ đồng chí khác đã để ở đó đem về. Khi thì hộp thư đặt ở gốc cây đa trước cửa chùa Đống Lân, khi thì đặt dưới bát hương trong miếu thổ công ở Cao Bình. Đồng chí giao thông nào phụ trách đoạn đường nào thì biết những thùng thư ở đoạn đường đó, tuyệt đối không được cho người khác biết.

Trong công tác giao thông liên lạc, các đồng chí nữ đoàn viên có tinh thần trách nhiệm rất cao. Có nữ đoàn viên vì làm công tác giao thông liên lạc của Đảng mà phải chịu tiếng oan một thời gian nhưng không vì điều tiếng này mà chán nản hay nhụt tinh thần công tác. Có khi nữ đồng chí liên lạc của chúng ta uất ức phát khóc nhưng không biện bạch được lòng trong trắng của mình, đành âm thầm chịu đựng tai tiếng. Vì nói ra thì việc lộ, đồng chí cán bộ kia sẽ bị bắt, mình cũng bị bắt, tổ chức Đảng, tổ chức Đoàn có thể bị phá vỡ. Chịu đựng điều đau xót đó, nữ đồng chí liên lạc chỉ có một điều an ủi : “Có Đảng, có Đoàn biết cho mình”. Về sau sự thật rõ ra, mọi người khâm phục và thêm yêu mến nữ đồng chí liên lạc của chúng ta.

Những năm 1932, 1933 và nhất là từ năm 1934 trở đi, ở Cao Bằng và ở Lạng Sơn, vào dịp những ngày kỷ niệm trong nước và quốc tế có truyền đơn cộng sản và cở đỏ xuất hiện ở nhiều nơi kêu gọi và cổ vũ nhân dân đấu tranh đòi quyền lơi hàng ngày khiến kẻ địch phải hoảng sợ. Cùng với các đảng viên, đoàn viên chúng tôi đã tham gia tích cực vào các việc đó. Đoàn viên chúng tôi cùng với các bạn học sinh hăng hái đã thực hiện có kết quả việc dán truyền đơn và treo cờ đỏ những ngày kỷ niệm ở thị xã. Sáng sáng chúng tôi đi bộ vào thị xã học, đi cùng thường có bà con trong làng vào thị xã mua bán. Ở đầu thị xã có bốt lính gác. Làm thế nào mang được truyền dơn vào thị xã ? Cho vào sách ư ? Nhỡ giữa đường có thằng bạn nào hỏi mượn quyển sách, quyển vở gì thì phiền, mà cho cả tập truyền đơn vào sách sao được, sách sẽ phồng tướng lên, lỡ lính gác sinh nghi hay chỉ tò mò hỏi xem thì nguy. Gửi người đi chợ thị xã ư ? Không được. Không thể gửi chút cái nguy cho người khác. Và cũng chẳng ai dám nhận. Tôi nảy ra ý nghĩ gánh hộ các bà già trong làng, khi thì gánh thóc, khi gánh chổi, khi lại gánh thóc vào chợ thị xã để nhét truyền đơn xuống đáy gánh. Thỉnh thoảng học sinh chúng tôi cũng gánh giúm các bà như thế nên không ai nghi ngờ gì cả, còn cảm ơn nữa là khác. Tôi gánh chạy lên trước, tới quãng vắng nhét truyền đơn vào gánh rồi đàng hoàng đi qua bốt gác cùng với những người khách đi chợ. Nhiều lần trót lọt, nhưng lần tôi gánh thóc thì sinh chuyện. Hôm ấy, một tên đội khố đỏ dẫn lính đi mua thóc. Hàng năm cứ sau vụ gặt, Tây lại cho lính đi càn mua thóc của nhân dân. Chúng cân mua thóc những người khác và đòi cân mua thóc của tôi. Hai lưng thúng thóc giá không bao nhiêu nhưng quan trọng là dười đáy thúng có truyền đơn. Nguy quá, không hiểu lúc ấy sắc mặt tôi có biến đổi gì không chứ tim thì đập mạnh. Nhưng tôi trấn tĩnh ngay được. Hoảng sợ thì sẽ lộ. Tôi bảo tên đội là không bán. Nó nhất định không nghe cứ đòi cân mua. Sau tôi bảo nó là không phải thóc của tôi, tôi gánh hộ một bà, bà ta đi trước rồi. Nó vẫn không nghe. Thế là tôi vùng vằng bỏ ganh1 thóc đấy, vẻ mặt bực tức bước đi, miệng bảo nó : “Thầy đội lằng nhằng làm tôi trễ học”. Nó bèn tát tôi một cái là rơi cả khăn - Học sinh người Tày chúng tôi khi ấy vẫn quấn khăn chàm đi học. Vin cớ bị đánh, tôi khóc tướng bỏ đi. Thấy không có chủ bán thóc, lính bèn gọi tôi lại trả gánh thóc. Lúc này kẻ địch chưa biết những truyền đơn ở thị xã do từ nông thôn chuyển vào nên chúng không nghi ngờ khám xét những người vào chợ thị xã. Bị lính bạt tai mấy cái, tôi rất tức, có nói vài câu phản đối, nhưng lại rất sung sướng vì được trả lại gán thóc trong có truyền đơn. Tôi phăng phăng gánh thóc vào thị xã.

Cũng như những lần gánh đỗ, gánh chổi, lần này tôi đã hẹn trước một học sinh tốt nhà ở thị xã, gọi hỏi mua gánh thóc. Tôi gánh thóc vào nhà, nhân lúc nhà vắng người, moi truyền đơn ra đưa cho anh bạn đó cất giấu đi, rồi gánh thóc ra chợ trả cho bà con người làng. Bà cảm ơn, tôi chỉ nói “không dám” bụng nghĩ “chính là cháu phải cảm ơn bà mới đúng”.

Hôm ấy cũng như mọi bận tôi vẫn đến lớp như thường nhưng không bụng nào nghe lời thầy giáo giảng bài cả. ngồi trong lớp, nghĩ lại chuyện vừa xảy ra, miệng muốn cười. Và nghĩ đến việc tối nay sẽ đi dán truyền đơn.

Tối đến, cũng như những lẩn khác, tôi giả vờ vào thị xã xem hát tuồng như những thanh niên các xã lân cận vào xem. Thị xã Cao Bằng cũng như nhiều thành phố, thị trấn khác trước Cách mạng tháng Tám được bọn Pháp cho mở nhiều sòng bạc lớn. Bọn chủ sòng mở một rạp hát tuồng câu người đến xem để dụ dỗ đánh bạc. Cạnh sòng bạc và ngay trong sòng bạc là tiệm rượu ; bàn đèn thuốc phiện và gái điếm. Một số thanh niên bị dụ dỗ đi vào con đường sa ngã, truỵ lạc tiêu phí cả tuổi xuân. Vào thị xã, tôi lấy truyền đơn ở nhà anh bạn học sinh, chia cho một nữ thanh niên hăng hái cảm tình đoàn đi dán ở một khu vực, còn tôi phụ trách dán một khu vực khác. Anh bạn học sinh tốt, ủng hộ cách mạng nhưng chưa đủ can đảm đi dán truyền đơn. Về sau tôi hiểu hoàn cảnh gia đình khá giả, bố mẹ nuông chiều đã kìm hãm lòng hang hái của anh.

Thị xã Cao Bằng lúc này chưa có đèn điện, những cột đèn dầu lửa ánh sáng vàng khè yếu ớt soi chẳng rõ đường phố chỉ tạo nêm những đám bóng tối xen lẫn chỗ sáng mờ mờ, rất thuận tiện cho việc lẩn tránh. Hơn nữa, từ 9 giờ đêm đèn đã tắt, đường phố tối om, có thể nói mình muốn làm gì thì làm địch cũng không biết. Tôi mua mấy quả chuối tiêu dùng làm hồ dán. Tối chỗ tối tôi miết chuối lên tường và dán truyền đơn, truyền đơn dính chặt vào tường, vào cánh cửa, dính chặt hơn cả hồ dán. Gặp người đi lại, tôi bóc chuối ăn thật như những thanh niên học sinh lúc ấy đi chơi vẫn ăn chuối, ăn kẹo, có gì lạ đâu. Kinh nghiệm này sau được phổ biến cho anh chị em.

Hôm sau tôi đi học thật sớm, đến chỗ truyền đơn chính tay mình dán đêm qua kẻ địch chưa thấy chưa kịp bóc. Làm như vô tình trông thấy tờ giấy dán ở tường, không biết gì tôi đứng lại đọc, kéo những người đi đường đứng lại cùng xem. Có người sau khi đọc sợ lôi thôi đến mình vội vã lảng đi nhưng cũng có người còn ngó tờ truyền đơn lần nữa, miệng lẩm bẩm : “ Cộng sản giỏ thật!”. Người này nói chuyện với người kia, người kia lại nói chuyện với người khác, phút chốc đạ thánh cái tin “truyền đơn cộng sản dán đầu thị xã”. Bọn mật thám, lính tráng hốt hoảng chạy đi tìm bóc và xua đuổi những người đứng chỗ có truyền đơn dán. Tôi cười thầm, nghĩ bụng : “Mày có bóc đi thì nhân dân cũng đã biết có truyền đơn của Đảng, nhiều người đã được đọc hay nghe lời Đảng kêu gọi rồi”.

Những ngày kỷ niệm, đoàn viên chúng tôi còn làm nhiệm vụ treo cờ Đảng nữa. Việc này khó khăn hơn nhưng cũng thích thú hơn. Thanh niên vui vẻ, hăng hái làm mọi việc Đảng giao cho nhưng tuổi thanh niên cũng thích làm những việc khó khăn, mạo hiểm hơn. Tôi nhớ một năm có “hai tuần lễ kỷ niệm ba L.” - Tức kỷ niệm V. Lê-nin, C. Li-ép-ních và R. Luých-xăm-bua từ ngày 6 đến ngày 21-1, Đảng giao cho tôi việc treo cờ Đảng ở thị xã. Đồng chí cán bộ bảo tôi phải tìm cách treo như thến nào để đông đảo đồng bào được nhìn thấy cờ Đảng và địch lâu mới hạ được. Treo cờ cũng không phải là việc khó lắm nhưng treo như yêu cầu của Đảng mới thật khó. Tôi suy nghĩ mãi chưa biết treo ở đâu. Tôi thuộc thị xã như trong lòng bàn tay mình nhưng trong những ngày này tôi vẫn đi đến mọi xó xỉnh để tìm chỗ treo cờ. Một tuần lễ đã qua đi. Một hôm tha thẩn đi tìm địa điểm treo cờ, tôi ngồi trên ghế dựa ở bến Nà Toán trên sông Hiến ở đầu thị xã, nhìn dòng sông suy nghĩ. Khi đó trên sông Hiến chưa có cầu như hiện nay mà ở bến phà Nà Toán đó chỉ có một dây cáp chăng ngang sông để kéo phà và trên cao có dây điện tín. Sáng nào người hai bên bờ sông cũng đứng đông chờ phà qua lại. Nhìn dây điện tín lửng lơ trên không, tôi bỗng bật lên : “Đây rồi, chỗ treo cờ đây rồi !”. Tôi quyết định sẽ treo cờ Đảng trên dây điện tín chỗ giữa dòng sông.

Về nhà, đêm đến chờ người nhà đi ngủ hết, tôi lấy cờ ra cặm cụi chuẩn bị dây treo. Tôi buộc hai góc trên của lá cờ vào một sợi dây, giữa dây buộc một vòng dây thép nhỏ, một đêm tối trời cuối thời gian kỷ niệm tôi trèo lên cột dây điện tín ở bờ sông, móc vỏng dây thép vào dây điện tín ở bờ sông, móc vòng dây thép vào dây điện tín rồi lẳng ra nhưng cờ không ra xa, thế mới bực. Tôi tụt xuống ngồi dười cột suy nghĩ cách làm thế nào cho cờ lẳng được ra xa. Nghĩ không ra, tôi phải leo lên tháo cờ mang về. Về nhà thao thức mãi không ngủ được, - nhiệm vụ Đảng giao cho chưa làm tròn, trong bụng tự nhiên cứ áy náy không yên, - tôi suy nghĩ cách này cách khác. Gần sáng bỗng nghĩ ra là cờ lẳng không xa vì cờ nhẹ quá, phải buộc cái gì ở dưới cờ cho cờ nặng, sức nặng sẽ kéo cờ theo dây điện tín chạy ra xa. Đêm sau tôi tháo trộm những hòn chì ở lưới đánh cá của bố và khâu chì vào hai góc dưới của cờ. Chuẩn bị đầy đủ, tôi lần ra chỗ cột điện tín và lấy hết sức lẳng ra thật xa.Cờ nặng theo vòng dây thép móc vào dây điện tín chạy ra đến chỗ giữa dòng sông dây điện tín võng xuống thì đứng lại.

Logged

BOM BI

Thành viên
*
Bài viết: 134


Aya Kito (1962 - 1988)

Re: Hồi ký về ĐOÀN« Trả lời #16 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2012, 08:27:41 pm »
Sáng hôm sau tôi ra xem cờ từ sớm. Nhân dân đi chợ thị xã, chờ phà qua sông, nhìn thấy cờ thốt lên vừa ngạc nhiện vừa sung sướng : “Cờ đỏ ! Cờ đỏ giữa dòng sông!”. Cờ trải thẳng nhờ những viên chì khâu ở hai góc dưới giữ cho gió không thổi cuộn lên được. Cờ rung rinh trước gió cuối sớm mùa đông. Hình búa liềm mầu vàng nổi bật trên nền đỏ thắm, soi bóng xuống dòng nước sông Hiến lững lờ, chiếu sáng một góc sông và chiếu sáng nét mặt những người dân đứng hai bên bờ, rọi niềm hy vọng và tin tưởng vào tâm trí những người thanh niên đang đi tìm cách mạng, tìm Đảng. Ai cũng trầm trồ : “Cộng sản giỏi thật!”. Người ta cũng bàn tán với nhau không biết cộng sản làm thế nào treo được cờ ở dây điện tín cao như thế ở giữa dòng sông. Nghe nhân dân nói những lời khâm phục Đảng, lỏng tôi tràn ngập vui sướng : tôi đã làm được nhiệm vụ Đảng giao cho.

Thằng chánh mật thám La-da-rê “mặt khỉ” - người dân Cao Bằng gọi nó là thằng “mặt khỉ” - nhớn nhác kéo lũ lâu la và lính tráng hộc tốc chạy đến. Nó giậm chân quát tháo inh ỏi, trông lại càng giống con khỉ ăn phải gừng. Nó ra lệnh cho lính tráng xua đuổi mọi người mỗi lúc một đông thêm để nhìn cờ Đảng nhưng mọi người lấy lý do chờ phà đi chợ để đứng lại ngắm cờ Đảng. Là đoàn viên thanh niên cộng sản, là đảng viên cộng sản, công tác đã mấy năm, tự tay mình đi cắm cờ Đảng nơi này nơi khác những ngày trước kỷ niệm nhưng thật lần này tôi cũng mới được đàng hoàng ban ngày ban mặt ngắm kỹ lá cờ thân yêu. Hình búa chắc, khoẻ, hình liềm cong cong với mũi nhọn sắc cùng với nàu đỏ rực của nền cờ từ đó in sâu trong tâm trí tôi.

Khong phải như mọi khi cờ cắm trên đồi, trên ngọn cây, kẻ địch lấy được dễ dàng, lần này kẻ địch loay hoay mãi vẫ chưa hạ được cờ. Thằng chánh mật thám ra lệnh bọn lính lấy đò chở ra giữa sông tìm cách tháo cờ. Dây điện tín cao, tay chúng với không tới, chúng lấy sào khều, khều không rơi. Sau chúng lấy súng bắn cờ, cờ chỉ bị thủng chứ không rôi. Không làm thế nào lấy được cờ xuống mà để cờ treo lâu phút nào thì càng thêm được nhiều người trông thấy cờ, lá cờ cộng sản, chúng càng lo, cuối cùng bọn Tây hạ lệnh cắt đứt dây điện tín chúng mới hạ được cờ.

Bọn lính bị quan trên la mắng vừa sợ vừa bực, nhưng cũng phải thốt ra : “Bọn cộng sản giỏi thật!”. Có tên tỏ ra thành thạo nói : “Thì ra ở đâu cũng có cộng sản. Đến như cái vùng rừng núi xa xôi này, cái vùng Thổ, Mán` cũng có cộng sản, nói gì ở Hà Nội với Sài Gòn, Nghệ An với Hà Tỉnh… Mẹ cái thằng Tây chỉ nói láo, bào cộng sản đã bị tiêu diệt, giờ chẳng giương mắt ra nhìn cờ cộng sản. Không khéo nhân dân Việt Nam đến làm cộng sản tuốt…”.

Cả thị xã Cao Bằng và vùng lân cận nấy hôm liền còn thì thào bàn tán về việc cờ cộng sản treo trên sông Hiến.

Ở mỏ thiếc Tĩnh Túc, anh em công nhân có lần treo được cờ Đảng trên các nóc cổng nhà thằng quan tư ở mỏ, trên nóc nhà máy và trên dây tời cao ngất ở lưng chừng núi. Thật là tài !

Những năm 1934, 1935 không dịp kỷ niệm nào mà Đảng viên đoàn viên chúng tôi không treo cờ và rải truyền đơn ở các nơi. Kẻ địch hoảng sợ phải ra lệnh giới nghiêm những ngày đó và bặt bớ nhiều người bị chúng tình nghi.

Từ năm 1927 đến năm 1932, thực dân Pháp bắt nhiều người dân phủ Hoà An đi đắp đường. Chúng không trả tiền công còn đánh đập những người phu đắp đường. Năm 1932 Đảng bộ đã lãnh đạo anh em đấu tranh đòi tên tri phủ Hoà An phải giảm việc bắt phu. Nó hứa sang năm sẽ giảm. Năm 1933 không những bọn thống trị không giảm mà còn bắt nhiều phu hơn. Chúng bắt nhân dân lấy đá, lấy cát đắp con đường Nước Hai – Cao Bính để tiện cho chúng hành quân. Ngày mưa chúng cũng bắt mọi người làm. Chúng vẫn không trả tiền công cho anh em. Theo chủ trương của Tỉnh uỷ, đảng viên và đoàn viên đã vận động được ba trăm dân phu tập trung ở cầu bản Sẩy dưới Nước Hai kéo lên phủ biểu tình đòi trả tiền công kêu đói không làm được, nếu không trả tiền công anh em sẽ bỏ về. Trước sức mạnh đoàn kết của anh em, tên tri huyện không dám khủng bố mà hứa đề đạt yêu cầu anh em lên tỉnh để giải quyết. Nhưng sau đó nó bắt một số người đi đầu cuộc biểu tình và hăng đòi tiền công. Nó nghi những người này là những người cầm đầu. Đúng vậy, đó là một số đảng viên và đoàn viên lãnh đạo cuộc biểu tình. Kết hợp đấu tranh bất hợp pháp với đấu tranh hợp pháp, theo chủ trương của Đảng bộ, đảng viên và đoàn viên đã tổ chức về tận Hà Nội kiện tên tri phủ và bọn quan lại ở tỉnh đã vào bè với tên tri phủ ức hiếp dân. Cuộc đấu tranh thắng lợi : bọn quan lại phải trả tiền công cho những người đắp đường, những người đồng chí bị bắt sau được thả. Để xoa diệu tinh thần đấu tranh của quần chúng, bọn thống trị thời ấy đã đổi tên tri phủ, tên công sứ và cả tên tuần phủ đi nơi khác. Nhân dân rất phấn khởi tin tưởng ở sự lãnh đạo của Đảng, càng thêm yêu mến đảng viên và đoàn viên. Thắng lợi của những cuộc đấu tranh này đã có ảnh hưởng tốt đến nhiều nơi khác.

Đảng bộ Cao Bằng lúc ấy còn định lập xưởng đúc vũ khí. Đảng bộ giao cho đoàn viên trách nhiệm thu nhặt và tìm kiếm kim khí. Nhiều đoàn viên chúng ta đã lén lút lấy lưỡi cày cũ, dao cùn, lưỡi cày mẻ của nhà mang góp vào kho nguyên liệu của Đảng. Quá hăng hái và thích thú khi nghe đến việc chuẩn bị đúc vũ khí, có đồng chì lấy cả lư hương bằng đồng mang góp nhưng bị Đảng phê bình. Tôi đã lấy lưỡi cày để mang góp.
Cày để ở dưới sàn nhà. Đêm tối tôi lần mò tháo lưỡi nhưng lưỡi cày gắn chặt vào đế cày, lay mãi không tháo được. Phải gõ thì nó mới long ra nhưng làm như thế sẽ lộ. Suy nghĩ, tôi thấy phải làm cách nào cho tiếng gõ không vang mới được. Đêm sau tôi lấy một cái dùi đục quấn giẻ vào cho tiếng gõ được êm. Tôi lại lấy cành trà thỉnh thoảng chọc con trâu đánh sừng vào cột nhà sàn làm như trâu bị muỗi đốt và đánh sừng như mọi khi, để cho tiếng gõ tháo lưỡi cày lẫn vào tiếng trâu đánh sừng. Thế là tôi gõ tháo được lưỡi cày.

Đường mang lưỡi cày đến nơi tập trung phải qua sông Bằng Giang. Không có đò, mà có đò cũng không dám đi, tôi phải bơi qua sông. Cầm lưỡi cày ở tay mà bơi thì không được, lưỡi cày nặng sẽ rơi mất - lưỡi cày ở vùng tôi to bản hơn lưỡi cày ở dưới xuôi, nặng có bốn ki-lô. Tôi bèn buộc lưỡi cày úp vào lưng như kiểu các bà mẹ địu con, để bơi qua sông. Lúc đứng ở trên bờ, lưỡi cày nằm dọc theo lưng cũng chưa sao cả. Nhưng càng bơi ra thì cử động chân tay và thân mình càng nhiều và sóng đánh càng mạnh làm lưỡi cày ở trên lưng cứ đưa lên đưa xuống rồi bỗng nó đâm vào gáy vì đầu mình ngẩng lên. Choáng váng cả người, nhưng không thể tháo vứt bỏ lưỡi cày xuống dòng sông. Tôi xoay ra bơi úp thỉnh thoảng mới nghiêng mặt thở phì phì để lấy hơi. Đến quá giữa sông thì đuối sức. Không thể bỏ lưỡi cày ! Tôi cố bơi. Gần đến bờ thì kiệt sức, tưởng không vào được đến bờ thì may vớ được cành cây cơi là là trên mặt nước. Vớ được cành cây cơi mà mãi không lên được, lá cơi bị tuột thế là tuột tay, tôi bị trôi đi đến mấy chục thước. Tưởng phen này bị ngụp vì cái lưỡi cày thì may sao nước đưa người miệt vào bờ, tôi tóm ngay được đám lau, sậy nhưng mệt quá không lên bờ được, phải chịu ngâm mình dưới nước một lúc để lấy lại sức rồi mới bò lên. Từ trước tôi vẫn tự hào là mình bơi cừ, một tay cầm quần áo, một tay bơi qua sông dễ như chơi. Vào việc mới thấy mình còn thiếu tập luyện. Người mệt lử nhưng trong bụng rất vui vì đã cùng với anh chị em được góp phần nhỏ vào kho nguyên liệu của Đảng.

Công tác phát triển đòi hỏi Đảng bộ phải có một tờ báo làm cơ quan tuyên truyền, cổ động quần chúng và chỉ đạo phong trào. Tôi được Đảng giao nhiệm vụ sang Long Châu nhận phiến đá in li-tô và vật liệu in do Đảng bộ Đảng cộng sản Trung Quốc ở Quảng Tây giúp. Từ Cao Bằng sang Long Châu có hai đường đi : một sang Thuỷ Khẩu theo đường lờn qua Thoòng Khéo rồi lên Long Châu, tôi đã đi đường này một hai lần. Đường thứ hai sang Bó Cục theo đường mòn cũng qua Thoòng Khéo rồi lên Long Châu, đường này tuy có khó đi nhưng lại ít bị kiểm soát hơn. Tôi chọn đường qua Bó Cục. Tôi đi vào ngày hội Đông Khê mồng hai tháng hai âm lịch. Hôm đó trai gái các nơi kéo về dự hội rất đông. Họ mặc những bộ quần áo đẹp nhất, những bộ quần áo diện cất kỹ trong rương mỗi năm chỉ giở ra mặc một hai lần vào dịp tết và hội hè. Để dễ trà trộn vào đám con trai đi xem hội, tôi đóng vai “công tử” bảnh : trong áo đoạn ngoài áo the, quần trắng là ống sớ, giày đế cơ-rết vàng, ô lục soạn, khăn xếp mới, trông rõ ra một chàng trai diện đi hội để chim gái. Đến Bó Cục, thuộc địa phận Trung Quốc tôi lại thay, mặc quần áo Trung Quốc. Từ đó, trong bộ quần áo người dân thuộc địa phương Trung Quốc, toi6 theo con đường mòn qua Thoòng Khéo rồi lên Long Châu.

Tới Long Châu, tôi gặp một đồng chí tên là Năm, người tầm thước hơi gầy, có cái sẹo ở sống mũi giữa hai lông mày.

Tôi nhớ tới đồng chí Năm nói về thanh niên. Khi đồng chí xem giấy giới thiệu, thấy tên tôi là Lạc Hậu – Lạc Hậu là bí danh của tôi do một đồng chí khác đặt cho, khi ấy tôi không hiểu hai chữ “lạc hậu” - đồng chí cười và nói “Thanh niên tiên tiến sao lại lấy tên là Lạc Hậu. Thanh niên không được lạc hậu. Thanh niên phải đấu tranh chống mọi cái lạc hậu, ủng hộ mọi cái tiến bộ, phải đi đầu thực hiện mọi công tác của Đảng đề ra. Như thế mới là thanh niên cách mạng, thanh niên cộng sản…”. Và đồng chí giải thích cho tôi thế nào gọi là lạc hậu, thế nào là tiên tiến. Từ đó tôi bỏ cái bí danh “Lạc Hậu” và lấy một bí danh khác. Tôi luôn luôn tự bảo mình : “Không phải chỉ là việc đơn giản thay một cái tên mà phải cố gắng nhiều hơn nữa để thực sự xứng đáng là người thanh niên cộng sản”.

Tôi ở lại Long Châu, cơ quan đồng chí Năm tám ngày. Cơ quan đóng tại một ngôi nhà nhỏ hai tầng thấp, ngay thị trấn Long Châu. Đồng chí Năm ở một căn buồng hẹp, tầng dưới. Tôi và vài thanh niên khác ở gian trên. Ván sàn hở tôi nhìn được xuống dưới. Đêm nào tôi cũng thấy đồng chí Năm làm việc rất khuya dưới ánh sáng của ngọn đèn dầu tù mù. Sáng nào tôi cũng dậy rất sớm nhưng dù dậy sớm đến thế nào cũng không thấy đồng chí Năm ở nhà nữa, không hiểu đồng chí dậy từ lúc nào. Khoảng 6 giờ mới thấy đồng chí về. Tôi đoàn có lẽ đồng chí ra rừng tập thể dục hoặc vào thôn xóm công tác, gặp gỡ những người nông dân và cán bộ Trung Quốc, trước lúc họ ra đồng làm việc. Trong những ngày ở Long Châu tôi được đồng chí giảng cho nghe những nghị quyết của Đảng và công tác vận động quần chúng.

Logged

BOM BI

Thành viên
*
Bài viết: 134


Aya Kito (1962 - 1988)

Re: Hồi ký về ĐOÀN« Trả lời #17 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2012, 08:30:55 pm »
Ở nhà dân, đồng chí rất ít nói nhưng mỗi khi đi với chúng tôi ra đồng, ra rừng đồng chí nói cười vui vẻ, thẳng thắn nhưng cũng rất ý nhị. Có một bữa tôi và hai thanh niên nữa cùng tên là Tùng cùng ngồi nói chuyện với đồng chí dưới gốc thông. Hai anh chàng Tùng này hay cãi nhau. Đồng chí lấy cây thông để giáo dục hai anh đó. Đồng chí chỉ bảo : “Ở đây có ba tùng – tùng chữ hán nghĩa là thông - một tùng thực vật (tức là thông) và hai tùng động vật (chỉ hai chàng Tùng kia), tùng thực vật thì suốt ngày lạc quan vui vẻ - đồng chí muốn nói là cây thông reo suốt ngày – còn hai tùng động vật thì suốt ngày cau có cãi nhau, chẳng hoá ra động vật, lại không bằng thực vật ư ?”. Hai anh chàng Tùng suy nghĩ về lời đồng chí nói lấy làm hổ thẹn.
Ngày tôi lên đường về nước, đồng chí hỏi : từ Long Châu về thị xã đi mất mấy ngày đường, tôi nói là ba ngày : một ngày từ Long Châu về Bó Cục, một ngày từ Bó Cục về Đông Khê và một ngày từ Đông Khê về Cao Bằng. Tôi thấy đồng chí lấy ra một đồng hào ván (đồng hai mươi xu bằng bạc pha kền), tay mân mê đồng hào miệng lẩm bẩm : “Ba ngày, mỗi bữa cơm hai xu, sáu bữa một hào hai”. Do một bữa được đồng chí chỉ cho xem, tôi được biết trong cặp đồng chí còn khá nhiều đồng hào ván và đồng một hào nhưng lại không có tiền xu, tôi đoán chừng là đồng chí không muốn đưa cho tôi cả hai hào vì như thế nhiều quá mà đưa một hào thì lại không đủ tiền ăn đường. Cuối cùng đồng chí đưa cho tôi đồng hào ván và dặn : “Ăn uống nên tiết kiệm còn thừa thì để giúp đỡ anh em khác”. Trước hôm lên đường, đồng chí đã định cử đồng chí Nhỏ - Nhỏ là bí danh của đồng chí Hoàng Sâm lúc ấy, vì đồng chí Hoàng Sâm đóng vai anh Nhỏ giúp việc trong nhà, nơi anh Năm làm việc nên lấy tên là Nhỏ - cùng về nước với tôi nhưng đồng chí Nhỏ đi công tác chưa kịp về. Vừa lúc đồng chí Năm đưa cho tôi đồng hào ván thì đồng chí Nhỏ về đến cơ quan. Đồng chí Năm cử luôn nhỏ cùng về với tôi, đưa thêm cho Nhỏ một hào và bảo chúng tôi : “Đấy, hai đồng chí có ba hào tiền ăn đường”. Mấy đồng xu tuy nhỏ nhưng thái độ của đồng chí Năm là bài học rất lớn đối với tôi về tinh thần tiết kiệm từng đồng một của Đảng, cho Đảng. Mỗi lần nhớ đến đồng chí Năm tôi không sao quên được chuyện đồng hào ván ấy. mãi về sau tôi mới biết đồng chí năm chính là anh Hoàng Văn Thụ của chúng ta. Tuy anh không còn nữa nhưng những lời dạy bảo của anh vẫn còn mãi mãi ghi sâu trong tâm trí tôi.

Phiến đá in li-tô và các vật liệu khác chuyển về đến Thuỷ Khẩu để ở nhà ông Hợp Xướng, một người Trung Quốc cảm tình với Đảng cộng sản Trung Quốc, làm nghề thợ may. Nhà ông Hợp Xướng là một trạm liên lạc của cán bộ ta từ trong nước sang Long Châu và từ Long Châu về trong nước qua đường Thuỷ Khẩu.

Từ Thuỷ Khẩu về đến nơi đặt cơ quan in, Đảng giao cho bốn tốp đảng viện và đoàn viên chuyển tiếp nhau. Trong bốn chặng đường đó thì chặng đầu đi đường sông và chặng thứ tư đi đường núi và vất vả nhất.
Chặng đầu từ Thuỷ Khẩu về Gia Cung do các đồng chí ở Gia Cung phụ trách. Anh em giả làm người đánh cá đi mảnh xuôi dòng nước Bằng Giang sang Thuỷ Khẩu nhận đá. Ở quãng biên giới này nhân dân hai nước ăn mặc gần giống nhau, biết nói tiếng của nhau, có họ hàng, bè bạn ở hai bên, những người đánh cá lại cùng đánh trên một dòng sông chảy qua hai nước, nhân dân ta lại thường sang Thuỷ Khẩu mua bán nên lính gác của thực dân Pháp ở bên này và lính gác của bọn Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch ở bên kia đều khó kiểm soát, Việc qua lại tương đối được dễ dàng. Để che giấu sự kiểm soát của địch ở hai bên, các đồng chí ta buộc đá ở dưới mảnh và ngược dòng sông Bằng Giang trở về. Vượt qua biên giới rồi anh em phải chờ mảng ban đêm – đi ban ngày sợ gặp lính đoan và lính gác của Pháp kiểm soát. Ban đêm trời rét, dòng sông ở quãng Phục Hoà lại nhiều ghềnh thác, thật là vất vả. Đi đến Sông Luông gần làng Ngườm Cuông thuộc huyện Phục Hoà mảng bị dòng thác chảy xiết làm lật. Dây buộc phiến đá bị đứt, phiến rơi chìm lỉm xuống dòng sông. Bụng đói, người rét, dòng nước lại chảy mạnh, anh em phải vật lộn giờ lâu với nước mới mò được phiến đá lên.
Đá chở về đến Gia Cung được giao cho tốp thứ hai, ban đêm chuyển đường bộ tới Tả Váng.
Từ Tả Váng, tốp thứ ba ban đêm chuyển lên Nà Lữ.
Từ Nà Lữ, tốp thứ tư chuyển đến hang Tốc Rù, nơi đặt cơ quan in báo. Đoạn đường này rất gian khổ. Cũng như hai đoạn trước, anh em đều phải đi ban đêm vì đi ban ngày thì sẽ lộ. Là những người ở miền núi quen đi đường núi rừng mà anh em phải lần từng bước mà đi. Vì không dám đi theo đường mòn, anh em phải vòng núi tìm lối mà đi. Núi đá gập ghềnh, đêm tối không đèn đuốc đi được một cây số thật là vất vả. Có lúc lên đến đỉnh núi lại phải dò xuống lũng sâu để rồi lại cõng phiến đá in trèo lên một ngọn núi khác. Hang Tốc Rù ở lưng chừng một quả núi đá trong dãy núi Lam Sơn. Đường lên hang rất dốc. Thật là khó nhọc mới điệu được hòn đá lên đến cửa hang, chưa đến 500 thước mà anh em phải nghỉ đến mười bận. Cửa hang là một lỗ nhỏ, anh em phải nằm ngửa xuống cho chân đi trước để dò đường trườn dần vào hang, lần lượt từng người một.

Hang tối âm u. Vách đá nhớp nháp dựng đứng ngay trên miệng thác nước chảy xiết. Lở xảy chân một cái là rơi luôn xuống thác, người chết, đá mất. Anh em phải đốt đuốc lên soi đường đi. Đi bộ hai trăm thước trong lòng hang mới tới chổ đặt phiến đá. Nền hang ẩm ướt, anh em lại phải ra ngoài hang đẵn gỗ mang vào bắt thành sàn để đặt đá lên và lấy chổ làm việc, chỗ ăn, chỗ ngủ. Hang có một lỗ thông hơi lên đỉnh núi, lỗ thông hơi nhỏ vàngoeo2a82n ngoèo nên ban ngày ánh sáng cũng lọt vào rất ít, làm việc vẫn phải đốt đuốc. Đó là “nhà in” của báo “Cờ đỏ”, cơ quan của Đảng bộ Cao Bằn, do một số đảng viên và đoàn viên thiết lập nên. Đồng chí Văn Tư là người phụ trách báo và nhà in. Biên tập viên và công nhân in là một số đảng viên và đoàn viên. Chữ tôi đẹp nên được Đảng phân công cùng một hai anh em khác viết bài vào đá để in.
Trong hang thiếu ánh sáng, thiếu không khí, anh em đều cảm thấy tức thở. Lúc nào bí hơi quá, tức ngực quá, anh em lạ trèo lên lỗ thông hơi hít thở một lúc rồi lại lần xuống làm việc. Mỗi lần mưa to, nước thác dâng lên là một lần anh em lo ngập sàn làm việc. Điều kiện làm việc đã như thế, ăn uống lại rất thiếu thốn vì tiếp tế khó khăn. Anh em phải vừa viết vừa in lại vừa phải phân công nhau đêm đêm về bản lấy thức ăn, nhập tin tức và giấy in. Có một dạo địch thấy báo và truyền đơn tung ra khắp nơi bèn lùng ráo riết và chặn mất đường tiếp tế từ dưới làng lên hang. Anh em phải nhịn đói mất hai ngày. Đã đói lại lạnh, anh em đều mệt phờ. Trong hang có nhiều rắn, có đêm rắn bò lên rúc vào ngủ với người cho ấm. Rắn hang phần nhiều lành không cắng người. Anh em bèn nảy ra ý bắt rắn ăn thịt. Tối đến anh em đốt lửa, đốt nhỏ không dám đốt to vì sợ ánh sán lọt và khói toả ra ngoài, địch đang đi lùng sẽ biết. Đốt lửa rồi anh em lên sàn nằm, vờ như đã ngủ để rình rắn ra sưởi. Khi lửa tàn rắn ở các ngóc ngách trong hang bò ra nằm cạnh đống tro nóng, cuộn tròn lại để sưởi ấm. Thế là anh em vùng dậy lấy gậy nện chết rối kéo tít xuống dưới đáy hang đốt lửa làm thịt luộc không mắm, không muối, để lấy sức làm việc.

Làm việc và ăn ở trong những điều kiện như vậy nhưng ai cũng vui vẻ. Mỗi lần in xong một tờ báo hay một truyền đơn, - lúc đầu chưa có kinh nghiệm, mỗi lần chỉ in được ít bản, về sau in được mỗi lần 400, 500 bản, - là một lần hân hoan vui sướng đối với tất cả anh em, từ đồng chí công nhân in đá, đồng chí “sắp chữ” (viết bài vào đá), đồng chí viết bài, đến đồng chí tổng biên tập, kiêm giám đốc nhà in. Ai cũng như mừng tưởng thấy được tờ báo đến tay quần chúng sẽ thổi vào quần chúng một luồng gió khích lệ, cổ vũ mới, nâng cao thêm tinh thần đấu tranh chống kẻ thù.Đêm đêm các đồng chí biên tập viên và công nhân lại trườn ra khỏi hang, mang báo hay truyền đơn về trạm liên lạc. Từ trạm anh chị em giao thông phân phát báo đi khắp các nơi trong tỉnh. Đảng viên, đoàn viên, quần chúng mong đợi tờ báo hơn mong đợi cả người thân. Tờ báo nói lên yêu cầu, nguyện vọng của họ, mang đến cho họ tình hình ta, địch, đường lối, chủ trương của Đảng, kinh nghiệm hoạt động của các nơi khác, chỉ cho họ cách đấu tranh, kêu gọi họ, khuyến khích họ cũng như phê bình những thiếu sót của họ. Có tờ báo, như có đồng chí cán bộ ở bên mình, cho nên mỗi khi tờ báo gặp khó khăn phải ra chậm, họ sốt ruột và lo lắng. Lo lắng cho báo, cho cán bộ, cho Đảng. Tờ baó gắn liền Đảng với quần chúng.

Báo “Cờ đỏ” ra được một thời gian thì đình bản vì gặp khó khăn về giấy, mực.

Đến cuối năm 1935 đầu năm 1936, được sự giúp đỡ của Tỉnh uỷ Đảng, trên cơ sở nhà in của báo “Cờ đỏ” cũ, Tỉnh uỷ Đoàn Cao Bằng ra một tờ báo của Đoàn. Lúc này Đảng bộ Cao Bằng không tiếp tục ra báo nữa vì đã có báo từ Trung ương và Xứ uỷ gửi về. Tờ báo Đoàn ở Cao Bằng tên là “Chuông giải phóng”. Ban biên tập ở hang Roỏng Loỏng và “nhà in” thì ở hang Tu Luyền, trong dãy núi Lam Sơn. Lúc này phong trào phát triển khá. Điều kiện làm việc và ăn ở của ban biên tập và nhà in báo “Chuông giải phóng” không quá khổ cực như thời kỳ “Cờ đỏ”, nhưng vẫn rất thiếu thốn, khó khăn. Tờ báo ra, mang lại một niềm phấn khởi và tin tưởng trong toàn thể đoàn viên và thanh niên trong tỉnh. Nhưng báo ra được hai số thì đình bản, cũng vì gặp khó khăn về giấy, mực.

Lúc này, trước những điều kiện mới, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, phong trào đấu tranh ở Cao Bằng cũng như trong cả nước đang chuyển sang một thời kỳ mới, rầm rộ công khai, hợp pháp : thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương. Những tờ báo công khai của Đảng như : “Lao động” (tiếng Pháp), “Tin tức” ; báo của thanh niên như “Bạn dân”, “Thế giới” xuất bản ở Hà Nội đưa về tới tận Cao Bằng, hướng dẫn nhân dân và thanh niên cả nước đấu tranh. Doàn thanh niên Cao Bằng không có điều kiện tiếp tục ra báo, coi những tờ báo của Đảng của Đoàn xuất bản ở Hà Nội là tờ báo của mình, tích cực cổ động cho nó.

Là cán bộ Đảng, tôi vẫn tiếp tục hoạt động trong phong trào thanh niên ở Cao Bằng trong thời kỳ Mặt trận nhân dân. Và bị bắt hai lần trong thời kỳ này. Lần thứ nhất vào đầu năm 1937 cùng một số đồng chí khác sau cuộc biểu tình đưa dân nguyện cho Gô-đa và vì mang bản mẫu điều tra tình hình dân cày của đồng chí Võ Nguyên Giáp về Cao Bằng. Sự việc như thế này : Được tin Gô-đa, phái viên của chính phủ Mặt trận nhân dân ở Pháp sang thăm Đông Dương lên mỏ thiếc Tĩnh Túc, Tỉnh uỷ vận động dân chúng đón đường đưa dân nguyện. Bọn mật thám đến phá cuộc biểu tình và bắt một số người trong đó có tôi, giam giữ đến tối thì thả. Được thả ra, tôi và các đồng chí cán bộ Đoàn khác xin ý kiến của Tỉnh uỷ về cách đối phó. Tỉnh uỷ cho tôi với tám đồng bảo tôi về Hà Nội đến báo “Lao động” liên lạc với đồng chí Võ Nguyên Giáp nhờ dư luận báo chí ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Cao Bằng. Báo “Lao động” đăng tin này và phản đối thực dân đàn áp, bắt bớ những người biểu tình. Sau đó, đồng chí Võ Nguyên Giáp giao cho tôi một bản mẫu điều tra tình hình dân cày để về Cao Bằng tiến hành điều tra. Nó là một bản viết tay trên bốn trang giấy học tró. Tôi gập tư lại lót vào mũ đội lên đầu. Tóc tôi hôm ấy chải bri-ăng-tin, bri-ăng-tin thấm qua bốn lầ giấy nhưng chữ vẫn còn đọc được. Về Cao Bằng tôi phổ biến cho cán bộ Đoàn khác bản mẫu điều tra và do thiếu cảnh giác để lọt bản chính của anh Giáp vào tay một kẻ đã có thái độ nghi ngờ. Thế là tôi bị bắt. Tôi bị địch tra tấn 29 ngày đêm liền, gãy mất mấy cái xương sườn. Nó đưa bản mẫu điều tra tình hình dân cày của anh Giáp viết ra hỏi, tôi nhìn thấy bốn vết bri-ăng-tin thấm trên giấy, lúc ấy mới biết rõ kẻ phản bội thì đã muộn. Nhưng tôi nhất định không nhận một điều nào. Chúng đánh chán phải thôi. Không khai thác được gì, sau hai tháng giam giữ chúng phải thả tôi ra. Lần thứ hai vào cuối năm 1939 khi chiến tranh thế giới đã xảy ra, địch bắt hàng loạt ngươi cách mạng ở Đông Dương. Lần đó tôi bị đày đi Sơn La. Cả hai lần, nhờ quá trình rèn luyện, giáo dục của Đảng, của Đoàn cũng như nhiều cán bộ đảng viên, đoàn viên khác, tôi đã giữ trọn lời thế lúc vào Đoàn, vào Đảng ; hết lòng trung thành với Đảng.

Nhìn lại thời kỳ hoạt động trong Đoàn thanh niên cộng sản và phong trào thanh niên, tôi thấy đó là một trong những thời kỳ đẹp đẽ nhất, quý báu nhất không gì đổi được của cuộc đời một người cách mạng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Cộng sản giỏi thật | Câu chuyện thời hoa lửa