Cụ Huỳnh Thúc Kháng - Người Duy Nhất Được Hồ Chủ Tịch Tin Tưởng Trao Cả Vận Mệnh Đất Nước.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng - Người Duy Nhất Được Hồ Chủ Tịch Tin Tưởng Trao Cả Vận Mệnh Đất Nước.

Huỳnh Thúc Kháng (1876–1947) là một trong những nhân vật đặc biệt nhất của lịch sử Việt Nam cận đại. Ông là nhà Nho đỗ đại khoa, là chí sĩ yêu nước của phong trào Duy Tân, là người từng chịu hơn một thập kỷ tù đày ở Côn Đảo, là nhà báo nổi tiếng với tờ Tiếng Dân và cũng là Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong những ngày đầu đầy sóng gió của nền độc lập.
Điều đặc biệt ở Huỳnh Thúc Kháng là dù trải qua nhiều biến động lịch sử, từ thời phong kiến, thời thuộc địa cho đến khi nước Việt Nam giành được độc lập, ông vẫn giữ vững một nhân cách lớn, một lòng yêu nước son sắt và luôn đặt lợi ích dân tộc lên trên mọi lợi ích cá nhân.
Ông sinh ngày 1/10/1876 tại làng Thạnh Bình, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng), trong một gia đình nhà Nho nghèo nhưng giàu truyền thống hiếu học. Thuở nhỏ, Huỳnh Thúc Kháng nổi tiếng thông minh, ham học và có ý chí mạnh mẽ. Năm 1900, ông đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương tại trường Thừa Thiên. Đến năm 1904, ông đỗ Tiến sĩ khi mới 28 tuổi, trở thành một trong những trí thức tiêu biểu của đất Quảng thời bấy giờ.
Thời điểm ấy, nhiều người sau khi đỗ đạt thường bước vào con đường làm quan để hưởng vinh hoa phú quý. Nhưng Huỳnh Thúc Kháng lại chọn một hướng đi khác. Ông tận mắt chứng kiến cảnh đất nước bị thực dân Pháp thống trị, nhân dân lầm than, triều đình ngày càng suy yếu. Ông hiểu rằng làm quan trong hoàn cảnh ấy khó có thể cứu được nước.
Chính vì vậy, ông đã cùng với Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp trở thành ba gương mặt tiêu biểu nhất của phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ. Người đời thường gọi ba ông là “Bộ ba Quảng Nam”.
Khác với chủ trương bạo động của Phan Bội Châu, phong trào Duy Tân mà Huỳnh Thúc Kháng tham gia tập trung vào việc nâng cao dân trí, phát triển kinh tế, cải cách xã hội và thức tỉnh tinh thần dân tộc. Các ông đi khắp nơi vận động mở trường học, khuyến khích học chữ Quốc ngữ, bài trừ hủ tục và kêu gọi người dân tự lực tự cường.
Năm 1908, phong trào chống thuế bùng nổ ở Trung Kỳ. Dù không trực tiếp tổ chức cuộc nổi dậy, Huỳnh Thúc Kháng vẫn bị thực dân Pháp bắt giữ với cáo buộc kích động chống đối chính quyền. Ông bị kết án khổ sai và đày ra Côn Đảo.
13 năm nơi địa ngục trần gian Côn Đảo là thử thách khắc nghiệt đối với bất kỳ ai. Nhưng chính quãng thời gian ấy lại càng tôi luyện ý chí của người chí sĩ đất Quảng. Trong lao tù, ông cùng nhiều nhà yêu nước khác tiếp tục học tập, trao đổi tư tưởng và nuôi dưỡng khát vọng giải phóng dân tộc.
Năm 1921, Huỳnh Thúc Kháng được trả tự do. Trở về đất liền, ông không lựa chọn cuộc sống an nhàn mà tiếp tục dấn thân vì dân vì nước.
Năm 1926, ông được bầu vào Viện Dân biểu Trung Kỳ. Tại đây, ông nhiều lần lên tiếng bảo vệ quyền lợi của người dân, phản đối những chính sách bất công của chính quyền thực dân. Khi nhận thấy cơ quan này không thể thực sự phục vụ quyền lợi nhân dân, ông đã từ chức để phản đối.
Cũng trong thời gian này, Huỳnh Thúc Kháng sáng lập tờ báo Tiếng Dân tại Huế và giữ vai trò chủ bút suốt 16 năm. Đây là một trong những tờ báo có ảnh hưởng lớn nhất Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám. Thông qua Tiếng Dân, ông kiên trì truyền bá tư tưởng yêu nước, cổ vũ khai dân trí, chấn dân khí và bảo vệ bản sắc dân tộc.
Điều đáng kính phục là dù hoạt động công khai dưới sự kiểm soát gắt gao của chính quyền thực dân, Huỳnh Thúc Kháng vẫn giữ được tiếng nói độc lập hiếm có. Tờ báo của ông nhiều lần bị kiểm duyệt, đình bản hoặc gây sức ép nhưng vẫn tồn tại suốt nhiều năm.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rằng để xây dựng khối đoàn kết dân tộc rộng lớn, đất nước cần quy tụ những nhân sĩ yêu nước có uy tín.
Lúc này Huỳnh Thúc Kháng đã gần 70 tuổi. Ông từng từ chối lời mời tham gia chính phủ thân Nhật của Trần Trọng Kim cũng như những lời mời gọi từ phía Hoàng thân Cường Để. Ông vẫn đang đi tìm một con đường thực sự vì dân tộc.
Khi biết Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc mà ông từng kính phục từ lâu, Huỳnh Thúc Kháng quyết định ra Hà Nội gặp Người. Ban đầu ông chỉ định trao đổi vài ý kiến, nhưng sau cuộc gặp ấy, ông hoàn toàn tin tưởng vào con đường cách mạng mà Hồ Chí Minh lựa chọn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ông tham gia Chính phủ Liên hiệp kháng chiến với cương vị Bộ trưởng Nội vụ. Sự có mặt của Huỳnh Thúc Kháng không chỉ mang ý nghĩa về chuyên môn mà còn là biểu tượng của sự đoàn kết giữa các tầng lớp yêu nước.
Trên cương vị Bộ trưởng Nội vụ, ông tham gia xây dựng nền hành chính mới của nước Việt Nam độc lập, ban hành nhiều quy định nhằm hoàn thiện bộ máy chính quyền non trẻ, xây dựng chế độ công chức và củng cố hệ thống quản lý nhà nước.
Tháng 5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau. Trước khi đi, Người nắm tay Huỳnh Thúc Kháng và căn dặn câu nói đã đi vào lịch sử:
“Dĩ bất biến, ứng vạn biến.”
Câu nói ấy có nghĩa là giữ vững mục tiêu cốt lõi, giữ vững lợi ích dân tộc nhưng phải linh hoạt trước mọi tình huống thay đổi.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao cho Huỳnh Thúc Kháng quyền điều hành đất nước với cương vị Quyền Chủ tịch nước.
Đây là thời điểm cực kỳ nguy hiểm. Chính quyền cách mạng còn non trẻ, thực dân Pháp đang chuẩn bị quay trở lại xâm lược, nhiều thế lực chống phá trong và ngoài nước tìm cách lật đổ chính quyền.
Trong hoàn cảnh ấy, Huỳnh Thúc Kháng đã chứng minh bản lĩnh của một nhà lãnh đạo giàu kinh nghiệm. Ông xử lý công việc thận trọng nhưng kiên quyết, duy trì sự ổn định của chính quyền, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.
Là người chủ trương ôn hòa và đề cao dân chủ, nhưng khi phát hiện các phần tử phản động cấu kết với quân Tưởng âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng, ông đã cương quyết chỉ đạo trấn áp. Câu mệnh lệnh nổi tiếng “Diệt! Diệt! Diệt!” thể hiện rõ quyết tâm bảo vệ nền độc lập vừa giành được.
Sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao những đóng góp của ông trong thời gian mình vắng mặt:
“Trong lúc tôi đi vắng, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của cụ Huỳnh... mà giải quyết được nhiều việc khó khăn.”
Cuối năm 1946, khi cuộc kháng chiến chống Pháp sắp bùng nổ, Huỳnh Thúc Kháng được cử làm Đặc phái viên Chính phủ vào miền Trung vận động nhân dân chuẩn bị kháng chiến.
Dù tuổi cao, sức yếu, ông vẫn không quản ngại đường xa. Đi đến đâu, ông cũng kêu gọi đồng bào đoàn kết, tin tưởng vào Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trong thư gửi đồng bào phụ lão, ông viết:
“Hãy tin tưởng vào Cụ Hồ Chí Minh, bậc yêu nước đại chí sĩ, kết chặt chẽ một khối quyết sống mái với kẻ thù.”
Đầu năm 1947, trên đường công tác tại Quảng Ngãi, ông lâm bệnh nặng.
Ngày 21/4/1947, Huỳnh Thúc Kháng qua đời tại Chợ Chùa, Nghĩa Hành, Quảng Ngãi, hưởng thọ 71 tuổi.
Trước lúc mất, ông gửi bức thư cuối cùng cho Chủ tịch Hồ Chí Minh với những lời đầy xúc động:
“Bốn mươi năm ôm ấp Độc lập và Dân chủ, nay nước đã được độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện, thế là tôi chết hả...”
Khi hay tin, Chủ tịch Hồ Chí Minh vô cùng thương tiếc. Người ca ngợi:
“Cụ Huỳnh là người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao. Giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan.”
Nhìn lại cuộc đời Huỳnh Thúc Kháng, người ta thấy ở ông hình ảnh của một nhà Nho yêu nước đã dành trọn đời mình cho dân tộc. Từ người thanh niên đỗ Tiến sĩ, đến người tù Côn Đảo, nhà báo Tiếng Dân, Bộ trưởng Nội vụ, rồi Quyền Chủ tịch nước, ở bất kỳ cương vị nào ông cũng chỉ theo đuổi một mục tiêu duy nhất: dân được tự do, nước được độc lập.
Đó cũng là lý do hơn một thế kỷ đã trôi qua, tên tuổi Huỳnh Thúc Kháng vẫn được nhắc đến như một biểu tượng của khí tiết, trí tuệ và lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam.



