Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà ái quốc chân chính, nhà cách mạng sáng suốt, vị lãnh tụ thiên tài. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người gắn liền với lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam. Người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Năm 1987, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đã tôn vinh Hồ Chí Minh là "Anh hùng giải
Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Chủ tịch Hồ
Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà ái quốc chân chính, nhà cách
mạng sáng suốt, vị lãnh tụ thiên tài. Cuộc đời và sự nghiệp cách
mạng của Người gắn liền với lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt
Nam. Người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải
phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu
tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến
bộ xã hội. Năm 1987, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa
Liên hợp quốc (UNESCO) đã tôn vinh Hồ Chí Minh là "Anh
hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam"
Giai đoạn từ năm 1890 đến năm 1911
Chủ tịch Hồ Chí Minh (tên lúc nhỏ là Nguyễn Sinh Cung, tên
khi đi học là Nguyễn Tất Thành, khi hoạt động cách mạng trước
đây lấy tên là Nguyễn Ái Quốc). Người sinh ngày 19/05/1890,
tại quê mẹ là làng Hoàng Trù (thường gọi là làng Trùa) huyện
Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam
Đàn, tỉnh Nghệ An). Thân phụ là Nguyễn Sinh Sắc, thân mẫu là
Hoàng Thị Loan. Người sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu
nước, ngay từ thuở nhỏ đã tiếp thu được truyền thống yêu nước,
lòng nhân ái từ gia đình và quê hương đất nước. Trong thời gian
10 năm sống ở Huế - trung tâm văn hóa, chính trị của đất nước,
Người tiếp xúc với nhiều sách báo Pháp, với nền văn hóa mới và
những bàn luận về các phong trào chống Pháp của các sĩ phu
yêu nước.
Sống trong hoàn cảnh đất nước chìm dưới ách đô hộ của thực
dân Pháp, Người đã chứng kiến sự đối lập giữa cuộc sống lao
động nghèo khổ của nhân dân với cảnh sống xa hoa, phè phỡn
của bọn thực dân Pháp. Người đã thấy được những cuộc biểu
tình chống sưu thuế của nông dân bị đàn áp dã man và sự thất
bại của các phong trào yêu nước. Theo Người, muốn cứu nước
phải tìm ra một con đường cách mạng mới. Có thể nói, tình yêu
quê hương, đất nước và gia đình đã hình thành nên người thanh
niên Nguyễn Tất Thành một nhân cách giàu lòng yêu nước, có
hoài bão cứu nước cứu dân và thấu hiểu được sức mạnh của ý
chí độc lập tự cường của dân tộc. Với một ý chí nghị lực phi
thường, Người đã quyết tâm tìm cách sang Pháp và các nước
phương Tây, Người khẳng định: "Tôi muốn ra nước ngoài xem,
xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như
thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta". Người cho rằng
dân tộc Việt Nam đang là một dân tộc mất quyền độc lập và
nhiệm vụ của những người Việt Nam yêu nước là phải đấu tranh
giành lại quyền độc lập.
Giai đoạn từ năm 1911 đến năm 1920
Để thực hiện hoài bão của mình, ngày 05/06/1911, Người lên
con tàu Đô đốc Latútsơ Tơrêvin, từ bến cảng Nhà Rồng, thành
phố Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh) rời Tổ quốc đi
sang Pháp. Người vừa lao động để kiếm sống, vừa học tập,
nghiên cứu các học thuyết cách mạng. Khi trả lời phỏng vấn một
nhà báo Nga, Người nói: "Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên
tôi được nghe ba chữ Pháp Tự do, Bình đẳng, Bác ái…Tôi rất
muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì
ẩn giấu đằng sau những chữ ấy" (1) . Khi được chứng kiến ở Pháp
cũng có những người nghèo như ở Việt Nam, Người nhận ra
rằng những người Pháp trên đất Pháp tốt và lịch sự hơn những
bọn thực dân Pháp ở Đông Dương. Từ năm 1911 đến năm 1917,
Người đã đến nhiều nước ở châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ
đã tận mắt thấy cuộc sống khổ cực của nhân dân và những tội
ác, thủ đoạn của chủ nghĩa thực dân. Người cho rằng nhân dân
lao động các nước, trong đó có giai cấp công nhân, đều bị bóc
lột có thể là bạn của nhau, còn chủ nghĩa đế quốc, bọn thực dân
ở đâu cũng là kẻ bóc lột, là kẻ thù của nhân dân lao động. Năm
1917, Người tham gia phong trào công nhân Pháp đấu tranh
chống chủ nghĩa thực dân.
Năm 1919, Người tham gia Hội những người Việt Nam yêu
nước" vào Đảng Xã hội Pháp- đảng của giai cấp công nhân
Pháp, theo Người đây là tổ chức theo đuổi lý tưởng cao quý của
Đại Cách mạng Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Người đã cùng
với một số nhà yêu nước Việt Nam thảo ra bản Yêu sách của
nhân dân An Nam lấy tên Nguyễn Ái Quốc gửi Hội nghị Vécxây
đòi quyền tự do dân chủ cho nhân dân Việt Nam. Đây là tiếng
nói chính nghĩa đầu tiên của đại biểu phong trào giải phóng dân
tộc. Người khẳng định các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có
thể dựa vào sức của bản thân mình, Người viết: Muốn được
giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy
vào lực lượng của bản thân mình (2) .
Tháng 7/1920, Người đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận
cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin trên
báo Humanité (Nhân Đạo). Khi đọc Luận cương của Lênin,
Người hiểu hơn về chủ nghĩa Lênin, Quốc tế Cộng sản, về cách
mạng vô sản, về phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới,
Người viết: Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động,
phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát
khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang
nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau
khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải
phóng chúng ta; (3) . Từ bản Luận cương của Lênin, Người đã tìm
thấy phương hướng và đường lối cơ bản của phong trào cách
mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản,
trong đó có cách mạng Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đến với chủ
nghĩa Lênin, từ một người Việt Nam yêu nước trở thành người
cộng sản Việt Nam đầu tiên. Đây là bước ngoặt quan trọng trong
cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, một sự chuyển biến
về chất, kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ
nghĩa quốc tế vô sản, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
Giai đoạn từ năm 1920 đến năm 1930
Cùng với những nhà hoạt động cách mạng của các thuộc địa
Pháp, Người thành lập Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa và
xuất bản báo Người cùng khổ (Le Paria) bằng tiếng Pháp vào
năm 1922. Trong bài Lời kêu gọi đăng ở số báo đầu tiên, Người
cũng chỉ ra mục đích của tờ báo là đấu tranh để giải phóng con
người. Trong thời gian hoạt động ở Quốc tế Cộng sản, Người chỉ
ra tình cảnh của giai cấp công nhân, nông dân nghèo ở các nước
thuộc địa đang chết dần vì đói rét, bệnh tật và kêu gọi Quốc tế
Cộng sản giúp đỡ họ.
Năm 1925, Người đã viết tác phẩm Bản án chế độ thực dân
Pháp, nhằm tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp, nêu rõ
nỗi thống khổ và sức mạnh của nhân dân các nước thuộc địa. Tại
Quảng Châu, Nguời thành lập Việt Nam Thanh niên cách mạng
đồng chí hội mở lớp huấn luyện, đào tạo trực tiếp cán bộ cho
cách mạng Việt Nam, ra báo Thanh niên bằng tiếng Việt. Đây
là tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam nhằm truyền bá chủ
nghĩa Mác- Lênin và lý luận cách mạng cho những người yêu
nước. Các bài giảng của Người tại lớp huấn luyện được tập hợp
in thành cuốn Đường Cách mệnh (1927) đề cập nhiều nội dung,
nhiều vấn đề trong đường lối và phương pháp cách mạng Việt
Nam. Đây là một trong những văn kiện lý luận đầu tiên của
Đảng, đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối cách mạng Việt Nam
sau này. Ngoài ra, Người còn viết rất nhiều tác phẩm và nhiều
bài trên báo Việt Nam độc lập, với nội dung ca ngợi truyền
thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, quật cường của dân tộc, kêu
gọi các tầng lớp nhân dân tham gia vào các hội, đoàn thể cứu
quốc, kêu gọi các đảng cộng sản ở chính quốc phải giúp đỡ
phong trào giải phóng ở thuộc địa. Thông qua báo chí và các
hoạt động thực tiễn, Người tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác –
Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt
Nam; Người đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục, khơi dậy
tinh thần dân tộc, hướng dẫn xây dựng lực lượng chính trị và lực
lượng vũ trang góp phần tạo ra một cao trào cứu nước mạnh mẽ
để đón thời cơ, tiến tới tổng khởi nghĩa giành độc lập, tự do cho
dân tộc.
Sức mạnh to lớn của nhân dân chỉ phát huy khi được tập hợp,
đoàn kết và được lãnh đạo bởi một tổ chức chính trị, Người
khẳng định;Lực lượng của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động là rất to lớn, là vô cùng vô tận. Nhưng lực lượng ấy cần có
Đảng lãnh đạo mới chắc chắn thắng lợi" (4) . Người chỉ rõ cách
mạng Việt Nam phải có đảng lãnh đạo, có chủ nghĩa Mác-Lênin
làm nòng cốt. Năm 1930, Người chủ trì Hội nghị hợp nhất ba tổ
chức cộng sản, thành lập ra một Đảng Cộng sản thống nhất lấy
tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Thông qua Chính cương vắn
tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc dự
thảo, các văn kiện này trở thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên
của Đảng. Bản Cương lĩnh chính trị thể hiện rõ sự vận dụng
sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin trong việc giải quyết
mối quan hệ giai cấp-dân tộc- quốc tế về đường lối cách mạng
Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời mở đầu một thời kỳ
mới trong lịch sử dân tộc, đưa nhân dân Việt Nam bước vào
cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do cùng các dân tộc bị áp bức, đấu
tranh giải phóng dân tộc, xóa bỏ hệ thống thuộc địa của chủ
nghĩa đế quốc, góp phần giải phóng loài người khỏi bóc lột và
bất công. Người đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử, trở thành Người
sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh chính trị
đúng đắn đã chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối, phương
pháp và tổ chức lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1945
Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời mở đầu cho một
thời kỳ mới trong lịch sử của dân tộc. Tuy Đảng vừa mới ra đời
nhưng đã trực tiếp lãnh đạo cao trào cách mạng 1930-1931, đỉnh
cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh. Người kêu gọi một số tổ chức quốc
tế, các đảng anh em có những hình thức phối hợp đấu tranh
nhằm động viên, giúp đỡ phong trào về vật chất và tinh thần.
Bên cạnh đó, Người còn thẳng thắn góp ý phê bình Đảng còn
kém đường bí mật công tác, nhắc nhở Đảng phải tìm cách bảo
vệ cán bộ, không để kẻ thù tìm cách bắt giữ hết cán bộ của ta.
Người không chỉ kêu gọi sự giúp đỡ phong trào mà còn ngăn
chặn sự đàn áp đẫm máu của bọn đế quốc, nhờ đó mà Ban Chấp
hành Quốc tế Cộng sản đã ca ngợi cuộc đấu tranh anh dũng của
nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời đánh
giá cao công lao to lớn của Người.
Tháng 10/1930, Hội nghị Trung ương Đảng đã họp và ra nghị
quyết: Hội nghị hiệp nhất Đảng do Nguyễn Ái Quốc chủ trì là
phạm sai lầm, chỉ lo đến việc phản đế mà quên lợi ích giai cấp
đấu tranh, việc phân chia thành trung, tiểu, đại địa chủ trong
sách lược của Đảng là không đúng nên Hội nghị đã bỏ tên
Đảng Cộng sản Việt Nam mà lấy tên là ;Đảng Cộng sản Đông
Dương hoạt động theo như chỉ thị của Quốc tế Cộng sản. Bên
cạnh đó, Đại hội I của Đảng Cộng sản Đông Dương ở Ma Cao
vẫn cử đồng chí Nguyễn Ái Quốc là đại biểu chính thức của
Đảng đi dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản. Điều đó chứng tỏ
quan điểm và uy tín của Người trong Đảng vẫn rất lớn.
Tháng 10/1934, Người được vào học Trường Quốc tế Lênin,
Người học đầy đủ các môn lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác-
Lênin và những phương pháp học tự nghiên cứu kết hợp với
thực tế. Cuối năm 1936, Người trúng tuyển vào lớp nghiên cứu
sinh, ngành lịch sử của Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và
thuộc địa. Năm 1937, Người dự kỳ thi học kỳ I của lớp nghiên
cứu sinh đạt kết quả tất cả các môn học. Do chiến tranh ngày
một ác liệt, Người không thể yên tâm ngồi học mà nóng lòng
muốn trở về nước hoạt động. Năm 1938, Người đã gửi thư cho
Quốc tế Cộng sản bày tỏ nguyện vọng được về nước.
Trước khi về nước, trong thời gian khi còn hoạt động ở nước
ngoài, dù đã từng bị tù đầy trong lao tù đế quốc vượt qua bao
khó khăn gian khổ nhưng Người vẫn kiên định thực hiện con
đường đã chọn là giải phóng dân tộc. Người vẫn luôn theo dõi
tình hình trong nước, kịp thời chỉ đạo cách mạng Việt Nam.
Được Quốc tế Cộng sản chấp thuận, vào ngày 28-01-1941,
Người trở về Việt Nam sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài.
Tháng 05/1941, Hội nghị Trung ương lần thứ tám họp tại Pác Bó
(Cao Bằng) dưới sự chủ trì của Người. Hội nghị đã đặt nhiệm vụ
giải phóng dân tộc lên hàng đầu, Người khẳng định: "Trong lúc
này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta
phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu
giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng (5) . Để tập hợp đông đảo các
tầng lớp nhân dân, tranh thủ mọi lực lượng yêu nước chống đế
quốc, giành độc lập cho dân tộc, chĩa mũi nhọn vào kẻ thù. Hội
nghị quyết định thành lậpViệt Nam độc lập đồng minh", gọi tắt
là Mặt trận Việt Minh vào ngày 19/05/1941. Ngày 22/12/1944,
Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập, là
tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày 18/08/1945,
Người viết thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa giành chính quyền,
Người viết Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến.
Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng
cho ta" (6) . Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lật đổ
chế độ phong kiến, lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp và
giành lại độc lập dân tộc từ tay phát xít Nhật. Đây là thắng lợi to
lớn của dân tộc vừa là sự kế thừa truyền thống của cha ông ta
trong lịch sử, vừa là sự tiếp thu, vận dụng sáng tạo của chủ
nghĩa Mác-Lênin và sự lãnh đạo tài tình của Chủ tịch Hồ Chí
Minh.
Ngày 02/09/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn
Độc lập lịch sử, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa:
"Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hoá cho họ những
quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy,
có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh
phúc; (7) . Bản tuyên ngôn khẳng định quyền tự do, độc lập của
các dân tộc và nói lên ý chí của toàn dân quyết đem tinh thần và
lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc
lập ấy "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự
thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam
quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để
giữ vững quyền tự do và độc lập ấy (8) . Bản Tuyên ngôn độc lập
là một văn kiện lịch sử có giá trị to lớn, trong đó độc lập, tự do
gắn với phương hướng phát triển lên chủ nghĩa xã hội là tư
tưởng chính trị cốt lõi vốn đã được Người phác thảo lần đầu
trong Cương lĩnh của Đảng năm 1930, nay đã trở thành hiện
thực cách mạng đồng thời trở thành chân lý của sự nghiệp đấu
tranh giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội mới của dân tộc Việt
Nam.
Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1969
Mới giành được chính quyền chưa được bao lâu thì thực dân
Pháp đã quay lại xâm lược Việt Nam. Quân Pháp núp sau quân
đội Anh, đã nổ súng ở Nam Bộ. Ở miền Bắc thì hơn 20 vạn quân
Tưởng kéo vào hòng thực hiện âm mưu tiêu diệt Đảng và nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Vận mệnh dân tộc lúc đó như
;ngàn cân treo sợi tóc" trước tình thế đó, Người đã chèo lái con
thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua thác ghềnh hiểm trở.
Người cùng Trung ương Đảng một mặt lãnh đạo đồng bào Nam
Bộ kháng chiến, mặt khác chăm lo xây dựng Đảng, củng cố
chính quyền non trẻ, đầy lùi giặc đói, giặc dốt, khắc phục nạn tài
chính thiếu hụt. Về đối ngoại, Người vận dụng sách lược mềm
dẻo, khôn khéo, thêm bạn, bớt thù,dĩ bất biến, ứng vạn biến",
với những nhân nhượng cần thiết để tranh thủ thời gian chuẩn bị
lực lượng đi vào cuộc kháng chiến lâu dài. Nhờ vậy mà tháng
12-1946, chính quyền cách mạng trong cả nước được giữ vững
với tư thế sẵn sàng và lòng tin sắt đá vào cuộc kháng chiến
trường kỳ, gian khổ nhưng nhất định thắng lợi. Người ra Lời kêu
gọi toàn quốc kháng chiến ;Dù phải gian lao kháng chiến,
nhưng với một lòng kiên quy: ết hy sinh, thắng lợi nhất định về
dân tộc ta ; (9) . Người đề ra đường lối kháng chiến lâu dài, toàn
dân, toàn diện, tự lực cánh sinh đồng thời Người lãnh đạo, tổ
chức, chỉ đạo kháng chiến chống thực dân Pháp và kiên quyết
chiến đấu bảo vệ tổ quốc với ý chí "Chúng ta thà hy sinh tất cả,
chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm
nô lệ; (10)
Năm 1951, Người cùng Trung ương Đảng quyết định triệu tập
Đại hội toàn quốc lần thứ II của Đảng, đưa Đảng ra công khai
với tên là Đảng Lao động Việt Nam và bầu Người làm Chủ tịch
Ban chấp hành Trung ương Đảng. Trong Thư gửi Đại hội trù bị,
Người viết: Nhiệm vụ chính của Đại hội ta là đẩy kháng chiến
đến thắng lợi hoàn toàn và xây dựng Đảng Lao động Việt
Nam; (11) . Đại hội đã thông qua Cương lĩnh mới, Điều lệ mới của
Đảng đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn, giải quyết mối quan
hệ giữa dân tộc và giai cấp nhằm động viên toàn Đảng, toàn
quân, toàn dân ta đẩy mạnh kháng chiến đưa đến thắng lợi ở
Điện Biên Phủ lịch sử (năm 1954) lừng lẫy năm châu, chấn động
địa cầu. Người chỉ đạo, động viên cán bộ chiến sĩ trên mặt trận
và truyền thêm sức mạnh, ý chí quyết chiến quyết thắng, một
niềm tin sắt đá để quân và dân ta vượt qua mọi khó khăn, gian
khổ giành thắng lợi. Trong Thư gửi Mặt trận Điện Biên Phủ,
Người viết:Thu Đông năm nay, các chú lại có nhiệm vụ tiến
quân vào Điện Biên Phủ để tiêu diệt thêm sinh lực địch, mở
rộng thêm căn cứ kháng chiến, giải phóng thêm đồng bào còn bị
giặc đè (12) . Tháng 7-1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết,
miền Bắc Việt Nam được giải phóng, nhưng miền Nam vẫn bị
đế quốc Mỹ xâm lược. Người cùng Trung ương Đảng lãnh đạo
nhân dân cả nước đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược:
cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân ở miền Nam.
Năm 1960, Đại hội lần thứ III của Đảng, Người được bầu làm
Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Người nêu ra hai
nhiệm vụ chiến lược:;Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà" (13) . Cả hai nhiệm vụ
đều nhằm mục tiêu chung là củng cố hòa bình, thực hiện thống
nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ. Người còn nêu rõ
miền Bắc là hậu phương lớn, có vai trò quyết định đối với cách
mạng cả nước, miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp đối với
hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam. Để đưa
miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, là hậu phương lớn cho cuộc
đấu tranh giải phóng miền Nam, Người nhấn mạnh trong Bài nói
tại Hội nghị cán bộ công đoàn: "muốn xây dựng chủ nghĩa xã
hội phải có người xã hội chủ nghĩa" (14) . Con người mới xã hội
chủ nghĩa là những người có đạo đức và tri thức, là những người
vừa "hồng" vừa "chuyên" và có ý thức làm chủ, xây dựng nước
nhà. Người lãnh đạo nhân dân miền Bắc vừa sản xuất, vừa chiến
đấu, đánh thắng chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, đồng thời ra
sức hoàn thành nhiệm vụ chi viện cho cách mạng miền Nam.
Người cũng luôn tin tưởng và khẳng định sự tất thắng của cách
mạng miền Nam. Sau Hiệp định Giơnevơ, Người nêu rõ: "Để
giành lấy thắng lợi, toàn thể nhân dân, quân đội và cán bộ ta từ
Bắc đến Nam cần phải đoàn kết chặt chẽ, tư tưởng phải thống
nhất, hành động phải nhất trí" (15) . Người còn viết Thư gửi đồng
bào cả nước vạch trần những âm mưu trong nước và thế giới về
những hành động sai trái của đế quốc Mỹ, Người khẳng định:
"Nước Việt Nam ta nhất định phải thống nhất. Đồng bào Nam và
Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà" (16) . Đây là một cuộc đấu
tranh lâu dài và gian khổ, đòi hỏi toàn thể đồng bào phải quyết
tâm kháng chiến.
Năm 1965, trước thất bại của chiến lược "chiến tranh đặc biệt",
đế quốc Mỹ đã chuyển sang chiến lược "chiến tranh cục bộ".
Chúng dùng mọi thủ đoạn, mọi phương tiện hiện đại đẩy mạnh
chiến tranh phá hoại bằng hải quân, không quân kể cả máy bay
chiến lược B.52. Trước những hành động leo thang xâm lược tàn
bạo của đế quốc Mỹ, Người khẳng định: "dù phải chiến đấu 5
năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên
quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn" (17) Người đã ra Lời kêu
gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước, Người nói: "Chiến tranh có
thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội,
Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá,
song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn
độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại
đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!" (18) . Người khẳng định
nhân dân Việt Nam chẳng những không sợ mà còn còn quyết
tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Hưởng ứng lời kêu gọi của
Hồ Chí Minh, đồng bào và chiến sĩ từ hậu phương đến tuyền
tuyến đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với
tinh thần dũng cảm đã đoàn kết chiến đấu lần lượt đánh thắng
mọi chiến lược của kẻ thù và giành được thắng lợi vẻ vang nhất
trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.
Ngày 02/09/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã qua đời, Người để
lại cho nhân dân Việt Nam bản Di chúc thiêng liêng. Di chúc là
những lời căn dặn cuối cùng đầy tâm huyết, nói lên tình sâu
nghĩa nặng của Người với nước, với dân; nói lên niềm tin tất
thắng ở sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Đề ra những phương
sách lớn để xây dựng lại đất nước sau chiến tranh nhằm thực
hiện mục tiêu: "Xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống
nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào
sự nghiệp cách mạng thế giới" (19) . Di chúc là một văn kiện lịch
sử vô giá, kết tinh trong đó cả tinh hoa tư tưởng, đạo đức và tâm
hồn cao đẹp của Người đã suốt đời phấn đấu hy sinh vì Tổ quốc
và nhân loại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở ra một thời đại mới trong lịch sử
dân tộc Việt Nam – Thời đại độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội. Trong suốt chặng đường hoạt động cách mạng,
Người đã vạch đường chỉ lối cho cách mạng Việt Nam đi từ
thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cuộc đời và sự nghiệp cách
mạng vĩ đại của Người luôn là tấm gương sáng ngời cho chúng
ta học tập và noi theo. Mỗi chúng ta cần cố gắng, nỗ lực hết
mình để chăm lo hạnh phúc của nhân dân, ra sức phấn đấu, rèn
luyện, noi gương tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để thực sự là
những người cán bộ, đảng viên chân chính hết lòng phụng sự tổ
quốc, phụng sự nhân dân xứng đáng là người lãnh đạo, người
đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XII khẳng định: "Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm
theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; coi đó là công
việc thường xuyên của các tổ chức chính trị - xã hội, địa
phương, đơn vị gắn với chống suy thoái về tư tưởng, chính trị,
đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển
hóa" trong nội bộ" (20) . Việc nghiên cứu, tuyên truyền, học tập tấm
gương Hồ Chí Minh góp phần thiết thực vào việc làm cho tư
tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành một bộ phận
cấu thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội Việt Nam
hiện đại.


