Cuộc hành quân đẫm máu
Năm 1970, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 88A phối thuộc với Sư đoàn 9 đang chiến đấu tại Tây Ninh thì được lệnh hành quân về vùng Kiến Phong, Kiến Tường (nay là vùng Đồng Tháp Mười) xây dựng cơ sở, mở rộng địa bàn giải phóng, phá tan thủ đoạn lập ấp chiến lược của đế quốc Mỹ...
Năm 1970, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 88A phối thuộc với Sư đoàn 9 đang chiến đấu tại Tây Ninh thì được lệnh hành quân về vùng Kiến Phong, Kiến Tường (nay là vùng Đồng Tháp Mười) xây dựng cơ sở, mở rộng địa bàn giải phóng, phá tan thủ đoạn lập ấp chiến lược của đế quốc Mỹ. Khi hành quân qua Kinh Ngang thuộc cánh đồng ấp Vĩnh An, xã Vĩnh Đại, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An, đơn vị đã bị địch phát hiện, chúng sử dụng trực thăng đổ quân bao vây và dùng hỏa lực bắn phá ác liệt vào đội hình đơn vị… Trận chiến đấu không cân sức ấy gây cho ta tổn thất nặng nề, hơn nửa tiểu đoàn với gần 400 cán bộ, chiến sĩ hy sinh. Theo dấu xưa, phóng viên Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng tìm về câu chuyện bi tráng và đẫm nước mắt này...
|
Cựu chiến binh Trần Duy Quang kể lại cuộc hành quân bi tráng của Tiểu đoàn 7. Ảnh: Đức Thắng. |
Đầu tháng 5-2015, chúng tôi nhận được thư của cựu chiến binh Nguyễn Thế Điệp (Kiến An-Hải Phòng). Trong thư ông Điệp cho biết, ông nguyên là chiến sĩ thông tin 2W của Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 88A còn sống sót trong trận Kinh Ngang. Tuy nhiên, câu chuyện ông kể chưa thật sự đầy đủ nên chúng tôi đã phối hợp với ông tiếp tục tìm hiểu để làm rõ hơn về Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 88A - đơn vị được giao nhiệm vụ hành quân về xây dựng cơ sở tại vùng Đồng Tháp Mười.
Thật may mắn, sau khi liên lạc với các cựu chiến binh còn sống, chúng tôi đã gặp được Thiếu tá Trần Duy Quang, nguyên Phó tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 7, người được giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy cuộc hành quân này. Cựu chiến binh Trần Duy Quang hiện đang sống tại huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Chúng tôi có mặt tại nhà ông vào lúc gần giữa trưa hè, nắng nóng miền trung du hầm hập, nhưng người lính già vẫn niềm nở đón tiếp. Biết rõ ý định chúng tôi muốn tìm hiểu về cuộc hành quân của Tiểu đoàn 7 nên sau khi mời khách những cốc chè vối mát lạnh, ông đã lật giở lại ký ức và bắt đầu kể về sự kiện ngày ấy.
Đó là cuối năm 1969, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 88A đang đóng quân tại Tây Ninh thì được lệnh sang Cam-pu-chia huấn luyện chiến thuật đồng bằng, tại đây nhiều nội dung mới được đưa vào huấn luyện như: Tập bơi thuyền, bơi tay không, chiến đấu trên sông nước… Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 7 là đồng chí Tô Thành Sóc (Thạch Sóc-người Khơ-me), đồng chí Trần Duy Quang và Nguyễn Quốc Thành là Tiểu đoàn phó, đồng chí Trân là Tham mưu trưởng, Chính trị viên là anh Luyện, Chính trị viên phó là anh Chí.
|
Cựu chiến binh Nguyễn Thế Điệp vẫn giữ được tấm bản đồ về cuộc hành quân năm ấy. Ảnh: Gia Linh. |
Đầu năm 1970, Tiểu đoàn 7 được lệnh hành quân về vùng Kiến Phong, Kiến Tường (nay là Đồng Tháp Mười) xây dựng cơ sở, mở rộng vùng giải phóng, giúp dân đấu tranh thoát khỏi ấp chiến lược của đế quốc Mỹ. Lúc bấy giờ, do tình hình biên giới Tây Ninh hết sức phức tạp nên trước khi Tiểu đoàn 7 hành quân, Tiểu đoàn 8 và Tiểu đoàn 9 của trung đoàn đã chủ động nghi binh nhằm đánh lạc hướng của địch. Lực lượng Tiểu đoàn 7 lúc này khá lớn, khoảng 700 quân, vì ngoài 3 đại đội bộ binh và đơn vị hỏa lực trong biên chế, đơn vị còn được tăng cường: 1 đại đội 12,7mm, 1 đại đội ĐKZ, cối 82mm, tên lửa vác vai A72 và 1 đơn vị trinh sát.
Cựu chiến binh Trần Duy Quang nhớ lại: “Để tạo thế bí mật bất ngờ, chúng tôi đã lợi dụng hai ngày ngừng bắn, đó là ngày 30 và Mồng Một Tết Canh Tuất 1970 để hành quân. Khi hành quân, đơn vị chia thành hai bộ phận: Bộ phận thứ nhất đi vào ngày 30 Tết, bộ phận thứ hai đi vào ngày Mồng Một Tết. Tôi chỉ huy bộ phận thứ nhất, gồm hai đại đội bộ binh và toàn bộ lực lượng được tăng cường, ước tính hơn 300 cán bộ, chiến sĩ. Bộ phận thứ hai do đồng chí Nguyễn Quốc Thành chỉ huy. Chúng tôi dự kiến hành quân ba đêm sẽ đến được cơ sở. Đường hành quân của đơn vị phải vượt qua một phần cánh đồng Tháp Mười nước đã rút cạn khô, chỉ còn lại cỏ ngoi đổ rạp trên mặt ruộng; thỉnh thoảng, ven bờ kênh rạch có những khóm tràm rộng khoảng vài chục mét vuông… Lý do chúng tôi không thể bám các bờ kênh hành quân là theo trinh sát báo về, cứ khoảng 1km trên bờ kênh có một bốt địch canh gác. Xác định hành quân qua địa hình trống trải rất nguy hiểm nên mọi quy định thường xuyên được quán triệt. Mệnh lệnh: “Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”, “đêm đi-ngày chui vào cỏ nghỉ” được truyền đi, truyền lại trong đội hình”.
Đêm đầu tiên, cuộc hành quân qua địa hình trống trải an toàn. Ngày thứ hai, tức vào chiều Mồng Một Tết, bỗng xuất hiện một chiếc trực thăng cán gáo của địch (loại trực thăng bay sát mặt đất), chúng bay theo quy luật, kiểm tra thẻ căn cước của người dân. Khi qua địa phận Kinh Ngang nơi đơn vị đang ẩn trú dưới cỏ, chúng bay rất thấp, cánh quạt trực thăng quạt mạnh làm nhiều đám cỏ, nơi cán bộ, chiến sĩ đang giấu mình bị hất tung lên. Nhiều chiến sĩ nhanh trí cuộn tròn vào cỏ như những con cúi, nhưng giữa cánh đồng trơ trọi rất khó giữ được yếu tố bí mật. Địch bắt đầu nghi ngờ, chúng cho máy bay quần đi đảo lại… Khi phát hiện chính xác Việt Cộng đang trú quân trên cánh đồng, chúng liền gọi trực thăng đến đánh phá. Vài phút sau, hàng chục chiếc trực thăng của địch bay rợp khu vực Kinh Ngang, chúng tức tốc đổ quân bao vây xung quanh và bắt đầu sử dụng rốc-két, súng phóng lựu và nhiều loại hỏa lực bắn mạnh vào đội hình của ta. Biết đã bị lộ, không thể ẩn nấp dưới cỏ, đồng chí Trần Duy Quang lệnh cho các đơn vị cơ động chiếm lĩnh các khóm tràm để chiến đấu. Khi chiếm lĩnh được vị trí, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 7 chống trả quyết liệt, đẩy lùi nhiều đợt bao vây của quân địch. Thấy vậy, chúng càng điên cuồng sử dụng trực thăng bắn phá vào đội hình. Cho đến khi trời đã sẩm tối, địch rút về với ý định sáng sớm hôm sau sẽ trở lại truy đuổi, bắt sống và tiêu diệt lực lượng của ta. Nhân thời cơ đó, đồng chí Trần Duy Quang chỉ huy đơn vị nhanh chóng rời khỏi vị trí Kinh Ngang, từng bước rút về biên giới Cam-pu-chia. Điều không may đã xảy ra là đúng ngày hôm sau, cánh quân thứ hai do đồng chí Nguyễn Quốc Thành chỉ huy cũng vừa hành quân đến khu vực này. Địch trở lại oanh tạc vào đội hình hành quân thứ hai của tiểu đoàn gây ra nhiều tổn thất.
Nghe cựu chiến binh Trần Duy Quang kể lại, chúng tôi không khỏi băn khoăn, tại sao khi đợt hành quân thứ nhất bị lộ mà đội hình hành quân thứ hai không hề hay biết? Ông Quang trả lời: Để giữ yếu tố bí mật, mọi quy định hiệp đồng đã được thống nhất từ trước khi hành quân. Khi đội hình thứ nhất bị địch oanh tạc, bộ phận thông tin của đơn vị bị tê liệt, máy thông tin bị hỏng hoàn toàn, lực lượng du kích dẫn đường cũng không còn ai nên không liên lạc được với bất cứ lực lượng nào, chính vì vậy, chúng tôi không thể kết nối với bộ phận thứ hai. Cũng may, do trung đoàn đã dự kiến trước tình huống có thể bị lộ nên sau ba ngày, cơ sở của ta báo về là chưa thấy Tiểu đoàn 7 đến địa bàn theo đúng hẹn, ngay lập tức, chỉ huy Trung đoàn 88A đã cử Tiểu đoàn 9 xuống tiếp ứng giải vây cho Tiểu đoàn 7.
Vượt qua vòng vây của địch, sau bảy ngày, cả hai cánh quân của Tiểu đoàn 7 đã trở lại biên giới Cam-pu-chia. Ngay khi kiểm tra lại quân số, đơn vị chỉ còn ngót một nửa, số còn lại đã hy sinh… Trung đoàn cho đơn vị nghỉ ngơi, ổn định tình hình tư tưởng. Nửa tháng sau, Tiểu đoàn 7 được bổ sung quân từ Bắc vào và nhanh chóng tổ chức huấn luyện, trong đó chú trọng huấn luyện chiến đấu trên chiến trường đồng bằng, sông nước. 6 tháng sau, đơn vị tiếp tục nhận lệnh hành quân về Đồng Tháp Mười xây dựng cơ sở. Tại đây, Tiểu đoàn 7 đã phối hợp với địa phương tổ chức nhiều trận đánh giành thắng lợi, điển hình là trận đánh đồn Cái Bèo, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.





