Cựu chiến binh

Cựu chiến binh Lê Văn Đa

Cựu chiến binh Lê Văn Đa, sinh năm 1956, nhập ngũ năm 1978 tại Đoàn 962 Quân khu 9, tham gia chiến trường Camphuchia, xuất ngũ năm 1982.

Cần Thơ21/11/2025Lê Thị Kiều Oanh (Đoàn xã Long Hưng)5 lượt xem0 lượt chia sẻ
Cựu chiến binh Lê Văn Đa

Cựu chiến binh Lê Văn Đa được sinh ra giữa vùng sông nước Nam Bộ, trong một gia đình nông dân nghèo nhưng giàu lòng yêu nước. Ký ức rõ rệt nhất của người cựu chiến binh bắt đầu từ thập niên 80, khi miền Nam đã hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước.

Hay tin Khmer đỏ tổ chức nhiều cuộc tấn công vào lãnh thổ của đất nước, phá hủy nhiều ngôi làng và giết hại hàng ngàn thường dân Việt Nam. Ngày 30/8/1978, lúc ấy ông 22 tuổi – cái tuổi đẹp nhất đời người, nhưng với trách nhiệm của một công dân ông xung phong thực hiện nghĩa vụ quân sự tại Đoàn 962, Hải quân Quân khu 9.

Ông kể lại: “Khi được trúng tuyển đi thực hiện nghĩa vụ quân sự thực hiện nhiệm vụ quốc tế trong lòng vừa mừng vừa lo, mừng vì được phục vụ, được cống hiến Tổ quốc giúp nước bạn chống lại nạn tiệt chủng, lo vì khi đi rồi lỡ có gì xảy ra thì ai lo cho cha mẹ nhưng với lòng yêu nước nồng nàn tôi quyết tâm lên đường phục vụ Tổ quốc. Đầu tháng 1/1979, chúng tôi được lệnh lập trận địa pháo 130mm ở mũi đảo Phú Quốc để yểm trợ cho lực lượng đổ bộ. Sau khi chuẩn bị một ngày thì bắt đầu tiến công đánh chiếm một trận địa pháo Khmer đỏ bảo vệ bờ biển. Lập tức các tàu tuần tiễu loại nhỏ của Khmer Đỏ xuất kích từ quân cảng Ream và các bến cảng nhỏ tấn công vào chúng tôi. Sau một trận giao chiến trên biển, do có ưu thế về số lượng và hỏa lực, chúng tôi đẩy lùi hoặc đánh chìm hầu hết các tàu Khmer Đỏ, nhưng không may tàu của tôi cũng bị trúng đạn, khiến nhiều đồng đội tôi bị thương vong, tôi may mắn chỉ bị thương nhẹ, được đồng đội cứu và thoát chết”.

Sau đó ông Đa được cho về dưỡng thương và xuất ngũ vào những tháng cuối năm 1979. Người cựu chiến binh ấy trở về quê, lập gia đình và tiếp tục làm nông. Những năm cuối 70, đầu 80 là thời kỳ đất nước vô cùng khó khăn, chúng ta còn gọi là thời kỳ bao cấp của đất nước: Người dân phải xếp hàng và sử dụng các loại tem phiếu do Nhà nước cấp để mua các nhu yếu phẩm như gạo, thịt, đường, vải,… Nông dân Nam Bộ vẫn sống dựa vào ruộng, nhưng mọi thứ bị quản lý chặt, không được tự do buôn bán. Có năm lúa mất mùa, cả xóm ăn bo bo thay cơm. Nhưng dù cực khổ, lòng người vẫn tin rằng rồi đất nước sẽ đổi thay.

Nhìn lại quãng đường gần 70 năm đời mình: từ chiến tranh, đói nghèo, tem phiếu… đến đất nước sáng đèn, phát triển, hòa bình, ổn định như ngày hôm nay, tất cả đã đủ với một đời người, không còn gì hối tiếc. Ông hy vọng thế hệ trẻ ngày nay hãy luôn trân trọng từng khoảnh khắc của đất nước, và hãy yêu đất nước theo cách của riêng mình nhưng không đi ngược lại với đất nước mình.

Với tôi sinh ra trong hòa bình, lớn lên giữa tiếng xe cộ, phố xá sáng đèn, điện thoại thông minh và internet. Vậy mà sau mỗi câu chuyện của người già, bỗng thấy mình nhỏ bé và may mắn đến lạ. Những gì thế hệ trẻ coi là bình thường hôm nay một mái nhà yên ổn, cơm đủ ba bữa, được tự do mơ ước đã được đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu của biết bao người.

Nghe ông kể về những năm tháng đói nghèo ở thời bao cấp, hay những ngày xếp hàng với tờ tem phiếu trên tay, tôi mới hiểu rằng đất nước không tự nhiên mà đổi thay. Mỗi bước tiến của hiện tại đều có dấu chân của những thế hệ đi trước.

Chúng tôi đôi khi bận rộn, đôi khi vô tư quá mức, nhưng mỗi lần nghe chuyện xưa, lòng lại dấy lên một sự biết ơn, một chút tự hào và cũng là trách nhiệm. Trách nhiệm phải sống tử tế hơn, cố gắng hơn, để không phụ những hy sinh thầm lặng.

Với người trẻ hôm nay, lịch sử không chỉ là những trang sách; đó là ký ức sống động nằm trong câu kể của ông bà, chú bác. Những câu chuyện ấy giúp chúng tôi hiểu rằng hòa bình quý giá thế nào, và tương lai đất nước nằm trong chính tay thế hệ mình.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn