Cựu chiến binh

Cựu chiến binh Nguyễn Văn Viêng

Cụ Nguyễn Văn Viêng là con út trong gia đình nông dân có 4 người con (3 trai, 1 gái). Năm 1948, khi cuộc kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt, theo tiếng gọi của Tổ quốc, cụ lên đường nhập ngũ. Sau thời gian huấn luyện tân binh, cụ đã tham gia chiến đấu ở chiến trường Lào, Bình Trị Thiên...

Cần Thơ05/02/2026Lê Huệ Thanh - Xã Vĩnh Hải (Xã Vĩnh Hải)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cụ Nguyễn Văn Viêng là con út trong gia đình nông dân có 4 người con (3 trai, 1 gái). Năm 1948, khi cuộc kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt, theo tiếng gọi của Tổ quốc, cụ lên đường nhập ngũ. Sau thời gian huấn luyện tân binh, cụ đã tham gia chiến đấu ở chiến trường Lào, Bình Trị Thiên...

Năm 1950, cụ được về phép thăm nhà lần đầu tiên. Năm đó, thực hiện nhiệm vụ mới, đơn vị của cụ phải hành quân ra Bắc chiến đấu. Trong khi dừng chân tại huyện Diễn Châu, cụ được đơn vị cho về thăm nhà 3 ngày.

“Tôi vô cùng phấn khởi vì được gặp lại gia đình, người thân sau hơn 2 năm đi chiến đấu. Mẹ tôi mừng lắm, mới về đến nhà, bà đã bắt cưới vợ. Con dâu mà bà chọn là một cô gái đẹp người, đẹp nết trong làng. Hai gia đình đã hẹn ước với nhau chỉ chờ tôi về là làm đám cưới. Chiều theo ý mẹ, tôi cũng quyết cưới vợ luôn”, cụ Viêng kể.

Thế rồi một đám cưới thời chiến diễn ra nhanh chóng, đơn giản, nhẹ nhàng mà vô cùng ấm cúng. Không có thủ tục rườm rà, hay cỗ lễ linh đình, trong buổi liên hoan hôm đó chỉ có nước chè xanh, nhưng anh em, bà con láng giềng, hai bên nội, ngoại đều vui vẻ.

Anh bộ đội làng Vĩnh Tuy cũng không ngờ mình cưới vợ nhanh đến thế. Ở nhà với vợ đúng 1 đêm, hôm sau cụ đã phải lên đường, chia tay người thân, người vợ trẻ trong lưu luyến. Nhớ lại thời điểm đó, cụ Viêng chia sẻ: Hồi ấy đi chiến đấu, tôi chỉ nghĩ đến việc đánh giặc, chưa nghĩ đến việc lập gia đình. Cưới vợ hôm về phép là nằm ngoài dự định của tôi. Tuy nhiên, cưới vợ xong, mẹ tôi rất vui, tôi đi cũng yên lòng vì ở nhà mẹ đã có người chăm sóc.

Có lẽ nhờ sự động viên của gia đình, của hậu phương, sau khi cưới vợ, cụ Viêng đã lập được nhiều thành tích xuất sắc trong chiến đấu ở các chiến trường Hà Nam Ninh, Hòa Bình, Sơn Tây… Năm 1951, cụ được đơn vị bình bầu danh hiệu Chiến sĩ thi đua, được tham dự Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn quân tại Đại Từ (Thái Nguyên) và được bầu là đại biểu xuất sắc tham dự Đại hội Thi đua toàn quốc năm 1952. Tại đại hội này, cụ được gặp Bác Hồ và được chụp ảnh chung với Bác.

Sau Đại hội Thi đua toàn quốc, từ chiến sĩ tiểu đội trưởng, cụ được đề bạt vượt cấp lên làm Chính trị viên đại đội, đảm nhận nhiệm vụ mới trong đơn vị.

Phải 7 - 8 năm sau ngày cưới, cụ mới được về nhà và sinh người con đầu lòng. Chuyện về phép 3 ngày cưới được vợ đã trở thành kỷ niệm đẹp, khó quên trong cuộc đời quân ngũ của cụ.

Quyết chiến trên chiến trường Điện Biên Phủ

70 năm sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, nhắc lại kỷ niệm xưa, người cựu chiến binh 104 tuổi vẫn kể với tâm trạng phấn chấn. Cụ nói: Tôi ở Đại đội 54, Tiểu đoàn 418, Trung đoàn 57, Đại đoàn 304. Khi tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ, đại đội tôi được tăng cường 1 khẩu pháo 105 ly. Khoảng đầu năm 1954, lúc đó gần Tết Nguyên đán, đơn vị tôi đã hành quân về phía Đông Nam phân khu Hồng Cúm.

Theo cụ Viêng, đơn vị của cụ đảm trách nhiệm vụ tiến đánh tiêu diệt các cứ điểm của địch thuộc phân khu Hồng Cúm. Tại đây, địch bố trí một lực lượng mạnh, gồm nhiều tiểu đoàn Âu- Phi, ngụy Thái, pháo 105, cối 120 ly, súng phun lửa, xe tăng, hàng nghìn binh lính. Cuộc chiến đấu ở Hồng Cúm cũng như trên chiến trường Điện Biên Phủ diễn ra vô cùng ác liệt. Bộ đội ta phải khoét núi, ngủ hầm, giành nhau với địch từng từng ngọn đồi, từng ụ súng.

Kỷ niệm khó quên của cụ trên chiến trường Điện Biên Phủ là đào hào dưới mưa bom, bão đạn. Cụ nói: Đơn vị tôi vừa chiến đấu, vừa đào giao thông hào, đồng thời, chặn địch không cho chúng ra rừng chặt gỗ làm hầm. Ban đêm quân ta đào, ban ngày địch cho xe tăng đi lấp, nhưng giao thông hào vẫn ngày một dài hơn, vây chặt các cụm cứ điểm. Pháp nó bắn đại bác inh tai. Đạn phi giăng nổ cách mặt đất khoảng 1 mét, ngoài sát thương còn làm điếc tai các chiến sĩ, nhiều người phải lấy lá cây nút lỗ tai.

Cụ Viêng kể: Đào hào chiến đấu ở Điện Biên Phủ, bộ đội ta thiếu nước uống, có khi kéo dài hàng tháng trời. Mỗi tổ chiến đấu chỉ được 1 bi đông nước, anh em phải nhường nhau để uống.

Nước không đủ uống chứ chưa nói đến tắm, hay rửa mặt. Tại Điện Biên Phủ, khoảng 4 giờ chiều trời đã bắt đầu tối. Đêm xuống, ai muốn rửa mặt thì trải chiếc khăn hay miếng vải lên bờ giao thông hào chờ sương thấm ướt rồi dùng lau mặt. Lúc thiếu nước là vậy, nhưng khi có mưa lớn cả thông hào lại ngập bùn lầy. Trong quá trình chiến đấu, thời điểm Đại đội trưởng hy sinh, Đại đội phó bị thương, cụ Viêng mỗi mình chỉ huy đơn vị quyết chiến, quyết thắng.

“Chiều ngày 7/5/1954, địch đồng loạt giăng cờ trắng ra hàng, chúng tôi vô cùng sung sướng. Tin thắng trận lan khắp chiến trường, niềm vui không tả nổi”, cụ Viêng nói.

Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, cụ được quân đội cử đi học tại Nam Ninh (Trung Quốc) 3 năm. Năm 1961, cụ lại tiếp tục được cử đi học quản lý kinh tế ở Khu gang thép Thái Nguyên. Hoàn thành khóa học, cụ trở về đơn vị với quân hàm Đại úy làm chính trị viên Tiểu đoàn. Sau đó, cụ được điều động vào Nam chiến đấu. Năm 1970, cụ ra Bắc và về hưu sống với gia đình tại Thái Nguyên.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Cựu chiến binh Nguyễn Văn Viêng | Câu chuyện thời hoa lửa