Cựu chiến binh

CỰU CHIẾN BINH PHẠM TRÍ LIÊN

Bài viết là **bức chân dung đầy xúc động về cựu chiến binh Phạm Trí Liên** - một trong những người lính đã trực tiếp tham gia hai chiến dịch lịch sử: **Chiến dịch Biên giới 1950** và **Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954**. Xuyên suốt bài viết là hình ảnh người lính trẻ tuổi đôi mươi xếp bút nghiên lên đường, vượt qua muôn vàn gian khổ (địa hình hiểm trở, thiếu thốn lương thực, nước uống, đối mặt với bom đạn và bệnh tật) để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù. Đặc biệt, bài viết khắc họa sâu sắc ký ức về

06/03/2026Trần Thị Huyền3 lượt xem0 lượt chia sẻ

[Tập tin: 18-TB Tham gia lưu giữ và tuyên truyền các câu chuyện lịch sử với chủ đề "Câu chuyện thời hoa lửa".docx]

Mùa thu năm 1950, dưới lời kêu gọi các chiến sĩ, nhân dân đứng dậy tham gia chiến dịch tiến công vào phòng tuyến của quân Pháp trên chiến tuyến Cao Bằng – Lạng Sơn, chàng trai Phạm Trí Liên (Sinh năm 1930, trú tại TDP Phùng Hưng, phường Cảnh Thụy) khi ấy tròn 20 tuổi đã xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ. Ông kể, “Đó là những đêm hành quân xuyên rừng, đối mặt với đạn pháo, bệnh tật, thiếu thốn lương thực, thuốc men. Có đồng đội bị mảnh đạn văng vào làm mù mắt, có người mất cả đôi chân vì giẫm phải mìn. Ranh giới giữa sự sống và cái chết lúc ấy mong manh lắm. Thế nhưng, các chiến sĩ của ta đều kiên cường tiến về phía trước để thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả”. Con đường số 4 đoạn qua đèo Bông Lau - Lũng Phầy dài gần chục km thuộc địa phận huyện Tràng Định, giáp tỉnh Cao Bằng, có địa thế hiểm trở, một bên núi dựng, một bên khe sâu. Con đường đèo vắt ngang qua sườn núi được coi là “cửa tử” của mọi thế trận phục kích. Theo ông Phạm Trí Liên, những ngày sôi động đó, ông là lính trinh sát nên thường đi thực địa kiểm tra thì thấy cây cối um tùm, địa hình mấp mô. Tại đây, các tổ, đội công tác của ta tổ chức đào công sự kéo dài hàng km, đồng thời chuẩn bị các trận địa súng cối, súng bazooka. Khi nghe thấy tiếng ô tô của địch đi trên đường là lập tức triển khai lực lượng vây đánh. Địch cứ thế bị thất bại, tiêu diệt, quân ta phá hủy 53 xe, đốt cháy 10 vạn lít xăng, diệt 250 lính Âu- Phi trong đó có 2 sỹ quan. Đến tối 10/10/1950, huyện Tràng Định hoàn toàn giải phóng. Trên đường chỉ huy chiến dịch, tối cùng ngày, Bác Hồ đã gặp mặt cán bộ, chiến sỹ đại đoàn 308 và nhân dân xã Chi Lăng, huyện Tràng Định. Chiến thắng biên giới Thu - Đông 1950 đã làm phá sản kế hoạch quân sự, chính trị của thực dân Pháp. Nhờ chiến thắng này, chúng ta đã khai thông 750 km đường biên giới Việt - Trung với 35 vạn dân, phá thế kìm kẹp của thực dân Pháp đối với căn cứ địa Việt Bắc.

Sau đó, ông Liên lui về hậu phương tiếp tế cho một số chiến dịch như Hoàng Hoa Thám, chiến dịch Hà Nam Ninh,.. Đến đầu năm 1954 Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu (Bắc – Trung tâm – Nam) với mục đích biến nơi này thành “pháo đài bất khả xâm phạm”, dụ quân ta vào trận đánh lớn để “nghiền nát chủ lực Việt Minh”. Trong bối cảnh ấy, Bác Hồ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta anh dũng bước vào cuộc kháng chiến. Lúc ấy, người bộ đội cụ Hồ Phạm Chí Liên đã ra trận tiếp tục công cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước. Ông hành quân lên lĩnh điểm cao, “khó khăn nhất là địa hình đồi núi dốc, không có đường cơ động, quá trình thực hiện nhiệm vụ thường xuyên thiếu nước uống nên mất rất nhiều ngày anh em mới chiếm lĩnh được trận địa để bước vào chiến đấu", cựu chiến binh Phạm Trí Liên nhớ lại. Ông khi đó giữ chức Trung đội phó được giao nhiệm vụ bắn từ xa vào chiến trận của địch, ông kể lại “Sáng sớm, lệnh của sư đoàn yêu cầu đánh vào quân Pháp đang tập thể dục, ông cùng đồng đội cầm chiếc súng cối 160 li nấp ngay sau chiến hào bắn thẳng vào quân địch, tiêu diệt được 12 quân cùng 2 người bị thương nặng. Còn có một lần, quân địch rút lui, ông cùng những người chiến sĩ đã quả cảm cầm pháo đuổi theo cả đội quân đang tháo chạy, cùng lúc đánh tan ý định rút lui của quân Pháp, gần như hết cả một trung đội không ai đi được nữa”. Có những ngày, quân tiếp tế không tiếp cận được chiến trường, ông phải ăn muối, uống nước sông vô cùng đói khổ mệt nhoài, ông Liên nói “Hôm nào ăn ngon lắm cũng chỉ là ít nắm cơm với 1-2 chai nước cả tiểu đội chia nhau uống”. Chiến đấu anh dũng được gần 1 tháng, không may trong một lần bắn pháo, ông bị quân địch nhắm vào và bị thương nặng phải vào nhà thương binh nằm chữa trị suốt cả trận chiến. Nhưng không vì thế mà ông chịu trận trước số phận, trước sức khỏe. Sau khi phục hồi, có thể đi lại, ông đã cùng các bác sĩ giúp chữa trị cho các đồng đội khác, thỉnh thoảng vẫn theo dõi quân địch rồi báo về cho trung đoàn. Ông bảo, ngày nghe tin quân ta chiến thắng dường như mọi mệt mỏi, đau đớn trong ông đều tan biến, cuối cùng ông cũng có thể về bên vòng tay ấm áp của mẹ, của gia đình rồi...

71 năm đã trôi qua, song ký ức của những người cựu chiến binh về một thời hoa lửa trên chiến trường Điện Biên Phủ vẫn không hề xóa nhòa. Bởi đó là những năm tháng rực rỡ nhất, nơi họ đã dùng máu viết nên lịch sử bằng chiến thắng lừng "lẫy năm châu, chấn động địa cầu".

Cuộc đời ông Phạm Trí Liên là bản trường ca về lòng yêu nước, về sự hy sinh thầm lặng của cả một thế hệ. Câu chuyện của ông mãi là bài học quý giá, là ngọn lửa truyền lại cho thế hệ trẻ hôm nay về tình yêu Tổ quốc và tinh thần phụng sự không bao giờ tắt. “Các cháu, các con cứ nghe đấy, thấy đấy mà nhớ. Nhờ sự hy sinh của các anh nên mới có hòa bình hôm nay", ông Liên nghẹn ngào.

Bài viết tái hiện chân dung Anh hùng liệt sĩ Phan Đình Giót – người chiến sĩ đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai trong trận đánh cứ điểm Him Lam, mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Qua câu chuyện về sự hy sinh anh dũng ấy, bài viết khắc họa tinh thần quả cảm, ý chí quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh của thế hệ thanh niên thời kháng chiến, đồng thời gửi gắm thông điệp về trách nhiệm sống xứng đáng với hòa bình hôm nay.

Có những cái chết hóa thành bất tử,

Có những con người ngã xuống để Tổ quốc đứng lên.”

Phan Đình Giót sinh năm 1922 trong một gia đình nông dân nghèo ở Hà Tĩnh. Tuổi thơ của anh gắn liền với ruộng đồng khô cằn, với những mùa đói và nỗi cơ cực của một đất nước còn chìm trong ách đô hộ. Anh lớn lên giữa cảnh quê hương lầm than, nên trong trái tim sớm nhen nhóm một điều giản dị: mong được sống trong tự do.

Khi kháng chiến bùng nổ, anh tình nguyện lên đường nhập ngũ. Người thanh niên ấy không mang theo ước mơ cao sang, chỉ mang theo lòng yêu nước mộc mạc và ý chí bảo vệ quê hương. Trong quân ngũ, anh nổi tiếng là người gan dạ, luôn xung phong nhận nhiệm vụ khó khăn.

Tháng 3 năm 1954, tại cứ điểm Him Lam – cánh cửa thép bảo vệ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ – trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt. Hỏa lực từ lỗ châu mai của địch bắn ra dữ dội, chặn đứng nhiều đợt xung phong của bộ đội ta. Đồng đội ngã xuống, khói lửa mù trời, mặt đất rung chuyển bởi bom đạn.

Trong một đợt tiến công, Phan Đình Giót bị thương nặng. Máu chảy ướt đẫm áo, nhưng anh vẫn cố gắng bò lên phía trước. Trước mắt anh là lỗ châu mai đang phun ra những làn đạn chết chóc. Nếu không triệt phá được vị trí ấy, nhiều đồng đội sẽ tiếp tục hy sinh.

Trong khoảnh khắc sinh tử, anh đã đưa ra một quyết định không chút do dự: dồn hết sức lực còn lại, lao người về phía lỗ châu mai, lấy thân mình lấp kín họng súng.

Tiếng súng địch bất ngờ tắt lịm.

Con đường tiến công được mở ra.

Sự hy sinh ấy chỉ diễn ra trong vài giây ngắn ngủi, nhưng đã góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của trận Him Lam, mở màn cho chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” sau này.

Phan Đình Giót ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ. Anh không kịp trở về quê nhà, không kịp nhìn thấy ngày chiến thắng hoàn toàn. Nhưng chính sự ra đi ấy đã hóa thành một phần bất tử của lịch sử dân tộc.

Hôm nay, khi chúng ta ngồi trong lớp học yên bình, khi thành phố lên đèn rực rỡ, ít ai hình dung được rằng mỗi tấc đất bình yên này đều được đánh đổi bằng máu và thân xác của những con người như anh.

Câu chuyện của Phan Đình Giót không chỉ để kể về một hành động anh hùng.

Đó là lời nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay:

Đừng sống thờ ơ trong hòa bình.

Đừng quên rằng tự do chưa bao giờ là điều tự nhiên mà có.

Bởi có những con người đã lấy cả sinh mệnh của mình

để đổi lấy một ngày mai cho Tổ quốc.

Và khi nhớ về anh, ta hiểu rằng:

Sống xứng đáng – cũng là một cách tiếp nối “thời hoa lửa”.

Bài viết là nén tâm hương tri ân, tái hiện chân dung huyền thoại của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Giữa những năm tháng "hoa lửa" rực cháy, ông không chỉ là vị Tổng tư lệnh thép mà còn là người anh cả giản dị của Quân đội Nhân dân Việt Nam, người đã biến niềm tin của nhân dân thành sức mạnh xoay chuyển lịch sử.

Lịch sử được viết bằng máu, nếu lãng quên, chúng ta sẽ phải dùng máu để viết lại.”

Lịch sử dân tộc Việt Nam không chỉ là những con số khô khan trên trang giấy, mà là một bản anh hùng ca được tấu lên bằng nhịp đập của triệu trái tim yêu nước, bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu xương hòa vào lòng đất mẹ. Giữa khúc tráng ca đầy bi tráng của những năm tháng chiến tranh "hoa lửa" ấy, có một cái tên đã trở thành biểu tượng bất diệt, một tượng đài về trí tuệ và nhân cách: Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Ngược dòng thời gian về dải đất miền Trung đầy nắng gió Quảng Bình năm 1911, cậu thiếu niên Võ Nguyên Giáp đã sớm mang trong mình dòng máu sục sôi của một người con mất nước. Không chọn sự an bài, ông dấn thân vào bão táp cách mạng từ những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường. Dẫu gông cùm của thực dân có siết chặt, dẫu ngục tù có khắc nghiệt, ý chí của người tri thức trẻ ấy vẫn vẹn nguyên một lời thề: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.

Bước ngoặt lịch sử đến vào tháng 12 năm 1944. Giữa đại ngàn Cao Bằng, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 34 chiến sĩ đầu tiên của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã tuyên thệ dưới lá cờ đỏ sao vàng. Đó chính là những "hạt giống đỏ" đầu tiên mà người anh cả Võ Nguyên Giáp gieo xuống, để rồi lớn mạnh thành một đội quân bách chiến bách thắng. Ở tuổi 37, ông nhận quân hàm Đại tướng – vị Đại tướng đầu tiên của một dân tộc chưa có tên trên bản đồ quân sự thế giới lúc bấy giờ.

Nhắc đến ông là nhắc đến "Điện Biên Phủ" – hai tiếng vang lên như sấm rền giữa thế kỷ XX. Bằng nhãn quan chiến thuật sắc bén và quyết định lịch sử "đánh chắc, tiến chắc", ông đã dẫn dắt những đôi chân trần chí thép làm nên kỳ tích "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu". Thế giới nghiêng mình trước một vị tướng không qua trường lớp quân sự chính quy nào, nhưng lại sở hữu một nghệ thuật cầm quân đầy nhân văn: Đánh thắng địch nhưng phải hạn chế thấp nhất máu xương của chiến sĩ.

Nhưng có lẽ, điều khiến Đại tướng sống mãi trong lòng nhân dân không chỉ là những chiến công hiển hách, mà chính là sự giản dị đến khiêm nhường. Giữa ánh hào quang của một huyền thoại, ông vẫn luôn tự coi mình là "người lính già", là người học trò nhỏ của Bác Hồ, và khẳng định rằng: Mọi vinh quang đều thuộc về nhân dân.[Tập tin: 18-TB Tham gia lưu giữ và tuyên truyền các câu chuyện lịch sử với chủ đề "Câu chuyện thời hoa lửa".docx]

Mùa thu năm 1950, dưới lời kêu gọi các chiến sĩ, nhân dân đứng dậy tham gia chiến dịch tiến công vào phòng tuyến của quân Pháp trên chiến tuyến Cao Bằng – Lạng Sơn, chàng trai Phạm Trí Liên (Sinh năm 1930, trú tại TDP Phùng Hưng, phường Cảnh Thụy) khi ấy tròn 20 tuổi đã xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ. Ông kể, “Đó là những đêm hành quân xuyên rừng, đối mặt với đạn pháo, bệnh tật, thiếu thốn lương thực, thuốc men. Có đồng đội bị mảnh đạn văng vào làm mù mắt, có người mất cả đôi chân vì giẫm phải mìn. Ranh giới giữa sự sống và cái chết lúc ấy mong manh lắm. Thế nhưng, các chiến sĩ của ta đều kiên cường tiến về phía trước để thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả”. Con đường số 4 đoạn qua đèo Bông Lau - Lũng Phầy dài gần chục km thuộc địa phận huyện Tràng Định, giáp tỉnh Cao Bằng, có địa thế hiểm trở, một bên núi dựng, một bên khe sâu. Con đường đèo vắt ngang qua sườn núi được coi là “cửa tử” của mọi thế trận phục kích. Theo ông Phạm Trí Liên, những ngày sôi động đó, ông là lính trinh sát nên thường đi thực địa kiểm tra thì thấy cây cối um tùm, địa hình mấp mô. Tại đây, các tổ, đội công tác của ta tổ chức đào công sự kéo dài hàng km, đồng thời chuẩn bị các trận địa súng cối, súng bazooka. Khi nghe thấy tiếng ô tô của địch đi trên đường là lập tức triển khai lực lượng vây đánh. Địch cứ thế bị thất bại, tiêu diệt, quân ta phá hủy 53 xe, đốt cháy 10 vạn lít xăng, diệt 250 lính Âu- Phi trong đó có 2 sỹ quan. Đến tối 10/10/1950, huyện Tràng Định hoàn toàn giải phóng. Trên đường chỉ huy chiến dịch, tối cùng ngày, Bác Hồ đã gặp mặt cán bộ, chiến sỹ đại đoàn 308 và nhân dân xã Chi Lăng, huyện Tràng Định. Chiến thắng biên giới Thu - Đông 1950 đã làm phá sản kế hoạch quân sự, chính trị của thực dân Pháp. Nhờ chiến thắng này, chúng ta đã khai thông 750 km đường biên giới Việt - Trung với 35 vạn dân, phá thế kìm kẹp của thực dân Pháp đối với căn cứ địa Việt Bắc.

Sau đó, ông Liên lui về hậu phương tiếp tế cho một số chiến dịch như Hoàng Hoa Thám, chiến dịch Hà Nam Ninh,.. Đến đầu năm 1954 Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu (Bắc – Trung tâm – Nam) với mục đích biến nơi này thành “pháo đài bất khả xâm phạm”, dụ quân ta vào trận đánh lớn để “nghiền nát chủ lực Việt Minh”. Trong bối cảnh ấy, Bác Hồ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta anh dũng bước vào cuộc kháng chiến. Lúc ấy, người bộ đội cụ Hồ Phạm Chí Liên đã ra trận tiếp tục công cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước. Ông hành quân lên lĩnh điểm cao, “khó khăn nhất là địa hình đồi núi dốc, không có đường cơ động, quá trình thực hiện nhiệm vụ thường xuyên thiếu nước uống nên mất rất nhiều ngày anh em mới chiếm lĩnh được trận địa để bước vào chiến đấu", cựu chiến binh Phạm Trí Liên nhớ lại. Ông khi đó giữ chức Trung đội phó được giao nhiệm vụ bắn từ xa vào chiến trận của địch, ông kể lại “Sáng sớm, lệnh của sư đoàn yêu cầu đánh vào quân Pháp đang tập thể dục, ông cùng đồng đội cầm chiếc súng cối 160 li nấp ngay sau chiến hào bắn thẳng vào quân địch, tiêu diệt được 12 quân cùng 2 người bị thương nặng. Còn có một lần, quân địch rút lui, ông cùng những người chiến sĩ đã quả cảm cầm pháo đuổi theo cả đội quân đang tháo chạy, cùng lúc đánh tan ý định rút lui của quân Pháp, gần như hết cả một trung đội không ai đi được nữa”. Có những ngày, quân tiếp tế không tiếp cận được chiến trường, ông phải ăn muối, uống nước sông vô cùng đói khổ mệt nhoài, ông Liên nói “Hôm nào ăn ngon lắm cũng chỉ là ít nắm cơm với 1-2 chai nước cả tiểu đội chia nhau uống”. Chiến đấu anh dũng được gần 1 tháng, không may trong một lần bắn pháo, ông bị quân địch nhắm vào và bị thương nặng phải vào nhà thương binh nằm chữa trị suốt cả trận chiến. Nhưng không vì thế mà ông chịu trận trước số phận, trước sức khỏe. Sau khi phục hồi, có thể đi lại, ông đã cùng các bác sĩ giúp chữa trị cho các đồng đội khác, thỉnh thoảng vẫn theo dõi quân địch rồi báo về cho trung đoàn. Ông bảo, ngày nghe tin quân ta chiến thắng dường như mọi mệt mỏi, đau đớn trong ông đều tan biến, cuối cùng ông cũng có thể về bên vòng tay ấm áp của mẹ, của gia đình rồi...

71 năm đã trôi qua, song ký ức của những người cựu chiến binh về một thời hoa lửa trên chiến trường Điện Biên Phủ vẫn không hề xóa nhòa. Bởi đó là những năm tháng rực rỡ nhất, nơi họ đã dùng máu viết nên lịch sử bằng chiến thắng lừng "lẫy năm châu, chấn động địa cầu".

Cuộc đời ông Phạm Trí Liên là bản trường ca về lòng yêu nước, về sự hy sinh thầm lặng của cả một thế hệ. Câu chuyện của ông mãi là bài học quý giá, là ngọn lửa truyền lại cho thế hệ trẻ hôm nay về tình yêu Tổ quốc và tinh thần phụng sự không bao giờ tắt. “Các cháu, các con cứ nghe đấy, thấy đấy mà nhớ. Nhờ sự hy sinh của các anh nên mới có hòa bình hôm nay", ông Liên nghẹn ngào.

Bài viết tái hiện chân dung Anh hùng liệt sĩ Phan Đình Giót – người chiến sĩ đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai trong trận đánh cứ điểm Him Lam, mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Qua câu chuyện về sự hy sinh anh dũng ấy, bài viết khắc họa tinh thần quả cảm, ý chí quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh của thế hệ thanh niên thời kháng chiến, đồng thời gửi gắm thông điệp về trách nhiệm sống xứng đáng với hòa bình hôm nay.

Có những cái chết hóa thành bất tử,

Có những con người ngã xuống để Tổ quốc đứng lên.”

Phan Đình Giót sinh năm 1922 trong một gia đình nông dân nghèo ở Hà Tĩnh. Tuổi thơ của anh gắn liền với ruộng đồng khô cằn, với những mùa đói và nỗi cơ cực của một đất nước còn chìm trong ách đô hộ. Anh lớn lên giữa cảnh quê hương lầm than, nên trong trái tim sớm nhen nhóm một điều giản dị: mong được sống trong tự do.

Khi kháng chiến bùng nổ, anh tình nguyện lên đường nhập ngũ. Người thanh niên ấy không mang theo ước mơ cao sang, chỉ mang theo lòng yêu nước mộc mạc và ý chí bảo vệ quê hương. Trong quân ngũ, anh nổi tiếng là người gan dạ, luôn xung phong nhận nhiệm vụ khó khăn.

Tháng 3 năm 1954, tại cứ điểm Him Lam – cánh cửa thép bảo vệ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ – trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt. Hỏa lực từ lỗ châu mai của địch bắn ra dữ dội, chặn đứng nhiều đợt xung phong của bộ đội ta. Đồng đội ngã xuống, khói lửa mù trời, mặt đất rung chuyển bởi bom đạn.

Trong một đợt tiến công, Phan Đình Giót bị thương nặng. Máu chảy ướt đẫm áo, nhưng anh vẫn cố gắng bò lên phía trước. Trước mắt anh là lỗ châu mai đang phun ra những làn đạn chết chóc. Nếu không triệt phá được vị trí ấy, nhiều đồng đội sẽ tiếp tục hy sinh.

Trong khoảnh khắc sinh tử, anh đã đưa ra một quyết định không chút do dự: dồn hết sức lực còn lại, lao người về phía lỗ châu mai, lấy thân mình lấp kín họng súng.

Tiếng súng địch bất ngờ tắt lịm.

Con đường tiến công được mở ra.

Sự hy sinh ấy chỉ diễn ra trong vài giây ngắn ngủi, nhưng đã góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của trận Him Lam, mở màn cho chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” sau này.

Phan Đình Giót ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ. Anh không kịp trở về quê nhà, không kịp nhìn thấy ngày chiến thắng hoàn toàn. Nhưng chính sự ra đi ấy đã hóa thành một phần bất tử của lịch sử dân tộc.

Hôm nay, khi chúng ta ngồi trong lớp học yên bình, khi thành phố lên đèn rực rỡ, ít ai hình dung được rằng mỗi tấc đất bình yên này đều được đánh đổi bằng máu và thân xác của những con người như anh.

Câu chuyện của Phan Đình Giót không chỉ để kể về một hành động anh hùng.

Đó là lời nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay:

Đừng sống thờ ơ trong hòa bình.

Đừng quên rằng tự do chưa bao giờ là điều tự nhiên mà có.

Bởi có những con người đã lấy cả sinh mệnh của mình

để đổi lấy một ngày mai cho Tổ quốc.

Và khi nhớ về anh, ta hiểu rằng:

Sống xứng đáng – cũng là một cách tiếp nối “thời hoa lửa”.

Bài viết là nén tâm hương tri ân, tái hiện chân dung huyền thoại của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Giữa những năm tháng "hoa lửa" rực cháy, ông không chỉ là vị Tổng tư lệnh thép mà còn là người anh cả giản dị của Quân đội Nhân dân Việt Nam, người đã biến niềm tin của nhân dân thành sức mạnh xoay chuyển lịch sử.

Lịch sử được viết bằng máu, nếu lãng quên, chúng ta sẽ phải dùng máu để viết lại.”

Lịch sử dân tộc Việt Nam không chỉ là những con số khô khan trên trang giấy, mà là một bản anh hùng ca được tấu lên bằng nhịp đập của triệu trái tim yêu nước, bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu xương hòa vào lòng đất mẹ. Giữa khúc tráng ca đầy bi tráng của những năm tháng chiến tranh "hoa lửa" ấy, có một cái tên đã trở thành biểu tượng bất diệt, một tượng đài về trí tuệ và nhân cách: Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Ngược dòng thời gian về dải đất miền Trung đầy nắng gió Quảng Bình năm 1911, cậu thiếu niên Võ Nguyên Giáp đã sớm mang trong mình dòng máu sục sôi của một người con mất nước. Không chọn sự an bài, ông dấn thân vào bão táp cách mạng từ những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường. Dẫu gông cùm của thực dân có siết chặt, dẫu ngục tù có khắc nghiệt, ý chí của người tri thức trẻ ấy vẫn vẹn nguyên một lời thề: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.

Bước ngoặt lịch sử đến vào tháng 12 năm 1944. Giữa đại ngàn Cao Bằng, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 34 chiến sĩ đầu tiên của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã tuyên thệ dưới lá cờ đỏ sao vàng. Đó chính là những "hạt giống đỏ" đầu tiên mà người anh cả Võ Nguyên Giáp gieo xuống, để rồi lớn mạnh thành một đội quân bách chiến bách thắng. Ở tuổi 37, ông nhận quân hàm Đại tướng – vị Đại tướng đầu tiên của một dân tộc chưa có tên trên bản đồ quân sự thế giới lúc bấy giờ.

Nhắc đến ông là nhắc đến "Điện Biên Phủ" – hai tiếng vang lên như sấm rền giữa thế kỷ XX. Bằng nhãn quan chiến thuật sắc bén và quyết định lịch sử "đánh chắc, tiến chắc", ông đã dẫn dắt những đôi chân trần chí thép làm nên kỳ tích "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu". Thế giới nghiêng mình trước một vị tướng không qua trường lớp quân sự chính quy nào, nhưng lại sở hữu một nghệ thuật cầm quân đầy nhân văn: Đánh thắng địch nhưng phải hạn chế thấp nhất máu xương của chiến sĩ.

Nhưng có lẽ, điều khiến Đại tướng sống mãi trong lòng nhân dân không chỉ là những chiến công hiển hách, mà chính là sự giản dị đến khiêm nhường. Giữa ánh hào quang của một huyền thoại, ông vẫn luôn tự coi mình là "người lính già", là người học trò nhỏ của Bác Hồ, và khẳng định rằng: Mọi vinh quang đều thuộc về nhân dân.[Tập tin: 18-TB Tham gia lưu giữ và tuyên truyền các câu chuyện lịch sử với chủ đề "Câu chuyện thời hoa lửa".docx]

Mùa thu năm 1950, dưới lời kêu gọi các chiến sĩ, nhân dân đứng dậy tham gia chiến dịch tiến công vào phòng tuyến của quân Pháp trên chiến tuyến Cao Bằng – Lạng Sơn, chàng trai Phạm Trí Liên (Sinh năm 1930, trú tại TDP Phùng Hưng, phường Cảnh Thụy) khi ấy tròn 20 tuổi đã xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ. Ông kể, “Đó là những đêm hành quân xuyên rừng, đối mặt với đạn pháo, bệnh tật, thiếu thốn lương thực, thuốc men. Có đồng đội bị mảnh đạn văng vào làm mù mắt, có người mất cả đôi chân vì giẫm phải mìn. Ranh giới giữa sự sống và cái chết lúc ấy mong manh lắm. Thế nhưng, các chiến sĩ của ta đều kiên cường tiến về phía trước để thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả”. Con đường số 4 đoạn qua đèo Bông Lau - Lũng Phầy dài gần chục km thuộc địa phận huyện Tràng Định, giáp tỉnh Cao Bằng, có địa thế hiểm trở, một bên núi dựng, một bên khe sâu. Con đường đèo vắt ngang qua sườn núi được coi là “cửa tử” của mọi thế trận phục kích. Theo ông Phạm Trí Liên, những ngày sôi động đó, ông là lính trinh sát nên thường đi thực địa kiểm tra thì thấy cây cối um tùm, địa hình mấp mô. Tại đây, các tổ, đội công tác của ta tổ chức đào công sự kéo dài hàng km, đồng thời chuẩn bị các trận địa súng cối, súng bazooka. Khi nghe thấy tiếng ô tô của địch đi trên đường là lập tức triển khai lực lượng vây đánh. Địch cứ thế bị thất bại, tiêu diệt, quân ta phá hủy 53 xe, đốt cháy 10 vạn lít xăng, diệt 250 lính Âu- Phi trong đó có 2 sỹ quan. Đến tối 10/10/1950, huyện Tràng Định hoàn toàn giải phóng. Trên đường chỉ huy chiến dịch, tối cùng ngày, Bác Hồ đã gặp mặt cán bộ, chiến sỹ đại đoàn 308 và nhân dân xã Chi Lăng, huyện Tràng Định. Chiến thắng biên giới Thu - Đông 1950 đã làm phá sản kế hoạch quân sự, chính trị của thực dân Pháp. Nhờ chiến thắng này, chúng ta đã khai thông 750 km đường biên giới Việt - Trung với 35 vạn dân, phá thế kìm kẹp của thực dân Pháp đối với căn cứ địa Việt Bắc.

Sau đó, ông Liên lui về hậu phương tiếp tế cho một số chiến dịch như Hoàng Hoa Thám, chiến dịch Hà Nam Ninh,.. Đến đầu năm 1954 Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu (Bắc – Trung tâm – Nam) với mục đích biến nơi này thành “pháo đài bất khả xâm phạm”, dụ quân ta vào trận đánh lớn để “nghiền nát chủ lực Việt Minh”. Trong bối cảnh ấy, Bác Hồ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta anh dũng bước vào cuộc kháng chiến. Lúc ấy, người bộ đội cụ Hồ Phạm Chí Liên đã ra trận tiếp tục công cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước. Ông hành quân lên lĩnh điểm cao, “khó khăn nhất là địa hình đồi núi dốc, không có đường cơ động, quá trình thực hiện nhiệm vụ thường xuyên thiếu nước uống nên mất rất nhiều ngày anh em mới chiếm lĩnh được trận địa để bước vào chiến đấu", cựu chiến binh Phạm Trí Liên nhớ lại. Ông khi đó giữ chức Trung đội phó được giao nhiệm vụ bắn từ xa vào chiến trận của địch, ông kể lại “Sáng sớm, lệnh của sư đoàn yêu cầu đánh vào quân Pháp đang tập thể dục, ông cùng đồng đội cầm chiếc súng cối 160 li nấp ngay sau chiến hào bắn thẳng vào quân địch, tiêu diệt được 12 quân cùng 2 người bị thương nặng. Còn có một lần, quân địch rút lui, ông cùng những người chiến sĩ đã quả cảm cầm pháo đuổi theo cả đội quân đang tháo chạy, cùng lúc đánh tan ý định rút lui của quân Pháp, gần như hết cả một trung đội không ai đi được nữa”. Có những ngày, quân tiếp tế không tiếp cận được chiến trường, ông phải ăn muối, uống nước sông vô cùng đói khổ mệt nhoài, ông Liên nói “Hôm nào ăn ngon lắm cũng chỉ là ít nắm cơm với 1-2 chai nước cả tiểu đội chia nhau uống”. Chiến đấu anh dũng được gần 1 tháng, không may trong một lần bắn pháo, ông bị quân địch nhắm vào và bị thương nặng phải vào nhà thương binh nằm chữa trị suốt cả trận chiến. Nhưng không vì thế mà ông chịu trận trước số phận, trước sức khỏe. Sau khi phục hồi, có thể đi lại, ông đã cùng các bác sĩ giúp chữa trị cho các đồng đội khác, thỉnh thoảng vẫn theo dõi quân địch rồi báo về cho trung đoàn. Ông bảo, ngày nghe tin quân ta chiến thắng dường như mọi mệt mỏi, đau đớn trong ông đều tan biến, cuối cùng ông cũng có thể về bên vòng tay ấm áp của mẹ, của gia đình rồi...

71 năm đã trôi qua, song ký ức của những người cựu chiến binh về một thời hoa lửa trên chiến trường Điện Biên Phủ vẫn không hề xóa nhòa. Bởi đó là những năm tháng rực rỡ nhất, nơi họ đã dùng máu viết nên lịch sử bằng chiến thắng lừng "lẫy năm châu, chấn động địa cầu".

Cuộc đời ông Phạm Trí Liên là bản trường ca về lòng yêu nước, về sự hy sinh thầm lặng của cả một thế hệ. Câu chuyện của ông mãi là bài học quý giá, là ngọn lửa truyền lại cho thế hệ trẻ hôm nay về tình yêu Tổ quốc và tinh thần phụng sự không bao giờ tắt. “Các cháu, các con cứ nghe đấy, thấy đấy mà nhớ. Nhờ sự hy sinh của các anh nên mới có hòa bình hôm nay", ông Liên nghẹn ngào.

Bài viết tái hiện chân dung Anh hùng liệt sĩ Phan Đình Giót – người chiến sĩ đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai trong trận đánh cứ điểm Him Lam, mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Qua câu chuyện về sự hy sinh anh dũng ấy, bài viết khắc họa tinh thần quả cảm, ý chí quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh của thế hệ thanh niên thời kháng chiến, đồng thời gửi gắm thông điệp về trách nhiệm sống xứng đáng với hòa bình hôm nay.

Có những cái chết hóa thành bất tử,

Có những con người ngã xuống để Tổ quốc đứng lên.”

Phan Đình Giót sinh năm 1922 trong một gia đình nông dân nghèo ở Hà Tĩnh. Tuổi thơ của anh gắn liền với ruộng đồng khô cằn, với những mùa đói và nỗi cơ cực của một đất nước còn chìm trong ách đô hộ. Anh lớn lên giữa cảnh quê hương lầm than, nên trong trái tim sớm nhen nhóm một điều giản dị: mong được sống trong tự do.

Khi kháng chiến bùng nổ, anh tình nguyện lên đường nhập ngũ. Người thanh niên ấy không mang theo ước mơ cao sang, chỉ mang theo lòng yêu nước mộc mạc và ý chí bảo vệ quê hương. Trong quân ngũ, anh nổi tiếng là người gan dạ, luôn xung phong nhận nhiệm vụ khó khăn.

Tháng 3 năm 1954, tại cứ điểm Him Lam – cánh cửa thép bảo vệ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ – trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt. Hỏa lực từ lỗ châu mai của địch bắn ra dữ dội, chặn đứng nhiều đợt xung phong của bộ đội ta. Đồng đội ngã xuống, khói lửa mù trời, mặt đất rung chuyển bởi bom đạn.

Trong một đợt tiến công, Phan Đình Giót bị thương nặng. Máu chảy ướt đẫm áo, nhưng anh vẫn cố gắng bò lên phía trước. Trước mắt anh là lỗ châu mai đang phun ra những làn đạn chết chóc. Nếu không triệt phá được vị trí ấy, nhiều đồng đội sẽ tiếp tục hy sinh.

Trong khoảnh khắc sinh tử, anh đã đưa ra một quyết định không chút do dự: dồn hết sức lực còn lại, lao người về phía lỗ châu mai, lấy thân mình lấp kín họng súng.

Tiếng súng địch bất ngờ tắt lịm.

Con đường tiến công được mở ra.

Sự hy sinh ấy chỉ diễn ra trong vài giây ngắn ngủi, nhưng đã góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của trận Him Lam, mở màn cho chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” sau này.

Phan Đình Giót ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ. Anh không kịp trở về quê nhà, không kịp nhìn thấy ngày chiến thắng hoàn toàn. Nhưng chính sự ra đi ấy đã hóa thành một phần bất tử của lịch sử dân tộc.

Hôm nay, khi chúng ta ngồi trong lớp học yên bình, khi thành phố lên đèn rực rỡ, ít ai hình dung được rằng mỗi tấc đất bình yên này đều được đánh đổi bằng máu và thân xác của những con người như anh.

Câu chuyện của Phan Đình Giót không chỉ để kể về một hành động anh hùng.

Đó là lời nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay:

Đừng sống thờ ơ trong hòa bình.

Đừng quên rằng tự do chưa bao giờ là điều tự nhiên mà có.

Bởi có những con người đã lấy cả sinh mệnh của mình

để đổi lấy một ngày mai cho Tổ quốc.

Và khi nhớ về anh, ta hiểu rằng:

Sống xứng đáng – cũng là một cách tiếp nối “thời hoa lửa”.

Bài viết là nén tâm hương tri ân, tái hiện chân dung huyền thoại của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Giữa những năm tháng "hoa lửa" rực cháy, ông không chỉ là vị Tổng tư lệnh thép mà còn là người anh cả giản dị của Quân đội Nhân dân Việt Nam, người đã biến niềm tin của nhân dân thành sức mạnh xoay chuyển lịch sử.

Lịch sử được viết bằng máu, nếu lãng quên, chúng ta sẽ phải dùng máu để viết lại.”

Lịch sử dân tộc Việt Nam không chỉ là những con số khô khan trên trang giấy, mà là một bản anh hùng ca được tấu lên bằng nhịp đập của triệu trái tim yêu nước, bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu xương hòa vào lòng đất mẹ. Giữa khúc tráng ca đầy bi tráng của những năm tháng chiến tranh "hoa lửa" ấy, có một cái tên đã trở thành biểu tượng bất diệt, một tượng đài về trí tuệ và nhân cách: Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Ngược dòng thời gian về dải đất miền Trung đầy nắng gió Quảng Bình năm 1911, cậu thiếu niên Võ Nguyên Giáp đã sớm mang trong mình dòng máu sục sôi của một người con mất nước. Không chọn sự an bài, ông dấn thân vào bão táp cách mạng từ những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường. Dẫu gông cùm của thực dân có siết chặt, dẫu ngục tù có khắc nghiệt, ý chí của người tri thức trẻ ấy vẫn vẹn nguyên một lời thề: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.

Bước ngoặt lịch sử đến vào tháng 12 năm 1944. Giữa đại ngàn Cao Bằng, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 34 chiến sĩ đầu tiên của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã tuyên thệ dưới lá cờ đỏ sao vàng. Đó chính là những "hạt giống đỏ" đầu tiên mà người anh cả Võ Nguyên Giáp gieo xuống, để rồi lớn mạnh thành một đội quân bách chiến bách thắng. Ở tuổi 37, ông nhận quân hàm Đại tướng – vị Đại tướng đầu tiên của một dân tộc chưa có tên trên bản đồ quân sự thế giới lúc bấy giờ.

Nhắc đến ông là nhắc đến "Điện Biên Phủ" – hai tiếng vang lên như sấm rền giữa thế kỷ XX. Bằng nhãn quan chiến thuật sắc bén và quyết định lịch sử "đánh chắc, tiến chắc", ông đã dẫn dắt những đôi chân trần chí thép làm nên kỳ tích "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu". Thế giới nghiêng mình trước một vị tướng không qua trường lớp quân sự chính quy nào, nhưng lại sở hữu một nghệ thuật cầm quân đầy nhân văn: Đánh thắng địch nhưng phải hạn chế thấp nhất máu xương của chiến sĩ.

Nhưng có lẽ, điều khiến Đại tướng sống mãi trong lòng nhân dân không chỉ là những chiến công hiển hách, mà chính là sự giản dị đến khiêm nhường. Giữa ánh hào quang của một huyền thoại, ông vẫn luôn tự coi mình là "người lính già", là người học trò nhỏ của Bác Hồ, và khẳng định rằng: Mọi vinh quang đều thuộc về nhân dân.[Tập tin: 18-TB Tham gia lưu giữ và tuyên truyền các câu chuyện lịch sử với chủ đề "Câu chuyện thời hoa lửa".docx]

Mùa thu năm 1950, dưới lời kêu gọi các chiến sĩ, nhân dân đứng dậy tham gia chiến dịch tiến công vào phòng tuyến của quân Pháp trên chiến tuyến Cao Bằng – Lạng Sơn, chàng trai Phạm Trí Liên (Sinh năm 1930, trú tại TDP Phùng Hưng, phường Cảnh Thụy) khi ấy tròn 20 tuổi đã xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ. Ông kể, “Đó là những đêm hành quân xuyên rừng, đối mặt với đạn pháo, bệnh tật, thiếu thốn lương thực, thuốc men. Có đồng đội bị mảnh đạn văng vào làm mù mắt, có người mất cả đôi chân vì giẫm phải mìn. Ranh giới giữa sự sống và cái chết lúc ấy mong manh lắm. Thế nhưng, các chiến sĩ của ta đều kiên cường tiến về phía trước để thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả”. Con đường số 4 đoạn qua đèo Bông Lau - Lũng Phầy dài gần chục km thuộc địa phận huyện Tràng Định, giáp tỉnh Cao Bằng, có địa thế hiểm trở, một bên núi dựng, một bên khe sâu. Con đường đèo vắt ngang qua sườn núi được coi là “cửa tử” của mọi thế trận phục kích. Theo ông Phạm Trí Liên, những ngày sôi động đó, ông là lính trinh sát nên thường đi thực địa kiểm tra thì thấy cây cối um tùm, địa hình mấp mô. Tại đây, các tổ, đội công tác của ta tổ chức đào công sự kéo dài hàng km, đồng thời chuẩn bị các trận địa súng cối, súng bazooka. Khi nghe thấy tiếng ô tô của địch đi trên đường là lập tức triển khai lực lượng vây đánh. Địch cứ thế bị thất bại, tiêu diệt, quân ta phá hủy 53 xe, đốt cháy 10 vạn lít xăng, diệt 250 lính Âu- Phi trong đó có 2 sỹ quan. Đến tối 10/10/1950, huyện Tràng Định hoàn toàn giải phóng. Trên đường chỉ huy chiến dịch, tối cùng ngày, Bác Hồ đã gặp mặt cán bộ, chiến sỹ đại đoàn 308 và nhân dân xã Chi Lăng, huyện Tràng Định. Chiến thắng biên giới Thu - Đông 1950 đã làm phá sản kế hoạch quân sự, chính trị của thực dân Pháp. Nhờ chiến thắng này, chúng ta đã khai thông 750 km đường biên giới Việt - Trung với 35 vạn dân, phá thế kìm kẹp của thực dân Pháp đối với căn cứ địa Việt Bắc.

Sau đó, ông Liên lui về hậu phương tiếp tế cho một số chiến dịch như Hoàng Hoa Thám, chiến dịch Hà Nam Ninh,.. Đến đầu năm 1954 Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu (Bắc – Trung tâm – Nam) với mục đích biến nơi này thành “pháo đài bất khả xâm phạm”, dụ quân ta vào trận đánh lớn để “nghiền nát chủ lực Việt Minh”. Trong bối cảnh ấy, Bác Hồ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta anh dũng bước vào cuộc kháng chiến. Lúc ấy, người bộ đội cụ Hồ Phạm Chí Liên đã ra trận tiếp tục công cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước. Ông hành quân lên lĩnh điểm cao, “khó khăn nhất là địa hình đồi núi dốc, không có đường cơ động, quá trình thực hiện nhiệm vụ thường xuyên thiếu nước uống nên mất rất nhiều ngày anh em mới chiếm lĩnh được trận địa để bước vào chiến đấu", cựu chiến binh Phạm Trí Liên nhớ lại. Ông khi đó giữ chức Trung đội phó được giao nhiệm vụ bắn từ xa vào chiến trận của địch, ông kể lại “Sáng sớm, lệnh của sư đoàn yêu cầu đánh vào quân Pháp đang tập thể dục, ông cùng đồng đội cầm chiếc súng cối 160 li nấp ngay sau chiến hào bắn thẳng vào quân địch, tiêu diệt được 12 quân cùng 2 người bị thương nặng. Còn có một lần, quân địch rút lui, ông cùng những người chiến sĩ đã quả cảm cầm pháo đuổi theo cả đội quân đang tháo chạy, cùng lúc đánh tan ý định rút lui của quân Pháp, gần như hết cả một trung đội không ai đi được nữa”. Có những ngày, quân tiếp tế không tiếp cận được chiến trường, ông phải ăn muối, uống nước sông vô cùng đói khổ mệt nhoài, ông Liên nói “Hôm nào ăn ngon lắm cũng chỉ là ít nắm cơm với 1-2 chai nước cả tiểu đội chia nhau uống”. Chiến đấu anh dũng được gần 1 tháng, không may trong một lần bắn pháo, ông bị quân địch nhắm vào và bị thương nặng phải vào nhà thương binh nằm chữa trị suốt cả trận chiến. Nhưng không vì thế mà ông chịu trận trước số phận, trước sức khỏe. Sau khi phục hồi, có thể đi lại, ông đã cùng các bác sĩ giúp chữa trị cho các đồng đội khác, thỉnh thoảng vẫn theo dõi quân địch rồi báo về cho trung đoàn. Ông bảo, ngày nghe tin quân ta chiến thắng dường như mọi mệt mỏi, đau đớn trong ông đều tan biến, cuối cùng ông cũng có thể về bên vòng tay ấm áp của mẹ, của gia đình rồi...

71 năm đã trôi qua, song ký ức của những người cựu chiến binh về một thời hoa lửa trên chiến trường Điện Biên Phủ vẫn không hề xóa nhòa. Bởi đó là những năm tháng rực rỡ nhất, nơi họ đã dùng máu viết nên lịch sử bằng chiến thắng lừng "lẫy năm châu, chấn động địa cầu".

Cuộc đời ông Phạm Trí Liên là bản trường ca về lòng yêu nước, về sự hy sinh thầm lặng của cả một thế hệ. Câu chuyện của ông mãi là bài học quý giá, là ngọn lửa truyền lại cho thế hệ trẻ hôm nay về tình yêu Tổ quốc và tinh thần phụng sự không bao giờ tắt. “Các cháu, các con cứ nghe đấy, thấy đấy mà nhớ. Nhờ sự hy sinh của các anh nên mới có hòa bình hôm nay", ông Liên nghẹn ngào.

Bài viết tái hiện chân dung Anh hùng liệt sĩ Phan Đình Giót – người chiến sĩ đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai trong trận đánh cứ điểm Him Lam, mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Qua câu chuyện về sự hy sinh anh dũng ấy, bài viết khắc họa tinh thần quả cảm, ý chí quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh của thế hệ thanh niên thời kháng chiến, đồng thời gửi gắm thông điệp về trách nhiệm sống xứng đáng với hòa bình hôm nay.

Có những cái chết hóa thành bất tử,

Có những con người ngã xuống để Tổ quốc đứng lên.”

Phan Đình Giót sinh năm 1922 trong một gia đình nông dân nghèo ở Hà Tĩnh. Tuổi thơ của anh gắn liền với ruộng đồng khô cằn, với những mùa đói và nỗi cơ cực của một đất nước còn chìm trong ách đô hộ. Anh lớn lên giữa cảnh quê hương lầm than, nên trong trái tim sớm nhen nhóm một điều giản dị: mong được sống trong tự do.

Khi kháng chiến bùng nổ, anh tình nguyện lên đường nhập ngũ. Người thanh niên ấy không mang theo ước mơ cao sang, chỉ mang theo lòng yêu nước mộc mạc và ý chí bảo vệ quê hương. Trong quân ngũ, anh nổi tiếng là người gan dạ, luôn xung phong nhận nhiệm vụ khó khăn.

Tháng 3 năm 1954, tại cứ điểm Him Lam – cánh cửa thép bảo vệ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ – trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt. Hỏa lực từ lỗ châu mai của địch bắn ra dữ dội, chặn đứng nhiều đợt xung phong của bộ đội ta. Đồng đội ngã xuống, khói lửa mù trời, mặt đất rung chuyển bởi bom đạn.

Trong một đợt tiến công, Phan Đình Giót bị thương nặng. Máu chảy ướt đẫm áo, nhưng anh vẫn cố gắng bò lên phía trước. Trước mắt anh là lỗ châu mai đang phun ra những làn đạn chết chóc. Nếu không triệt phá được vị trí ấy, nhiều đồng đội sẽ tiếp tục hy sinh.

Trong khoảnh khắc sinh tử, anh đã đưa ra một quyết định không chút do dự: dồn hết sức lực còn lại, lao người về phía lỗ châu mai, lấy thân mình lấp kín họng súng.

Tiếng súng địch bất ngờ tắt lịm.

Con đường tiến công được mở ra.

Sự hy sinh ấy chỉ diễn ra trong vài giây ngắn ngủi, nhưng đã góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của trận Him Lam, mở màn cho chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” sau này.

Phan Đình Giót ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ. Anh không kịp trở về quê nhà, không kịp nhìn thấy ngày chiến thắng hoàn toàn. Nhưng chính sự ra đi ấy đã hóa thành một phần bất tử của lịch sử dân tộc.

Hôm nay, khi chúng ta ngồi trong lớp học yên bình, khi thành phố lên đèn rực rỡ, ít ai hình dung được rằng mỗi tấc đất bình yên này đều được đánh đổi bằng máu và thân xác của những con người như anh.

Câu chuyện của Phan Đình Giót không chỉ để kể về một hành động anh hùng.

Đó là lời nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay:

Đừng sống thờ ơ trong hòa bình.

Đừng quên rằng tự do chưa bao giờ là điều tự nhiên mà có.

Bởi có những con người đã lấy cả sinh mệnh của mình

để đổi lấy một ngày mai cho Tổ quốc.

Và khi nhớ về anh, ta hiểu rằng:

Sống xứng đáng – cũng là một cách tiếp nối “thời hoa lửa”.

Bài viết là nén tâm hương tri ân, tái hiện chân dung huyền thoại của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Giữa những năm tháng "hoa lửa" rực cháy, ông không chỉ là vị Tổng tư lệnh thép mà còn là người anh cả giản dị của Quân đội Nhân dân Việt Nam, người đã biến niềm tin của nhân dân thành sức mạnh xoay chuyển lịch sử.

Lịch sử được viết bằng máu, nếu lãng quên, chúng ta sẽ phải dùng máu để viết lại.”

Lịch sử dân tộc Việt Nam không chỉ là những con số khô khan trên trang giấy, mà là một bản anh hùng ca được tấu lên bằng nhịp đập của triệu trái tim yêu nước, bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu xương hòa vào lòng đất mẹ. Giữa khúc tráng ca đầy bi tráng của những năm tháng chiến tranh "hoa lửa" ấy, có một cái tên đã trở thành biểu tượng bất diệt, một tượng đài về trí tuệ và nhân cách: Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Ngược dòng thời gian về dải đất miền Trung đầy nắng gió Quảng Bình năm 1911, cậu thiếu niên Võ Nguyên Giáp đã sớm mang trong mình dòng máu sục sôi của một người con mất nước. Không chọn sự an bài, ông dấn thân vào bão táp cách mạng từ những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường. Dẫu gông cùm của thực dân có siết chặt, dẫu ngục tù có khắc nghiệt, ý chí của người tri thức trẻ ấy vẫn vẹn nguyên một lời thề: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.

Bước ngoặt lịch sử đến vào tháng 12 năm 1944. Giữa đại ngàn Cao Bằng, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 34 chiến sĩ đầu tiên của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã tuyên thệ dưới lá cờ đỏ sao vàng. Đó chính là những "hạt giống đỏ" đầu tiên mà người anh cả Võ Nguyên Giáp gieo xuống, để rồi lớn mạnh thành một đội quân bách chiến bách thắng. Ở tuổi 37, ông nhận quân hàm Đại tướng – vị Đại tướng đầu tiên của một dân tộc chưa có tên trên bản đồ quân sự thế giới lúc bấy giờ.

Nhắc đến ông là nhắc đến "Điện Biên Phủ" – hai tiếng vang lên như sấm rền giữa thế kỷ XX. Bằng nhãn quan chiến thuật sắc bén và quyết định lịch sử "đánh chắc, tiến chắc", ông đã dẫn dắt những đôi chân trần chí thép làm nên kỳ tích "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu". Thế giới nghiêng mình trước một vị tướng không qua trường lớp quân sự chính quy nào, nhưng lại sở hữu một nghệ thuật cầm quân đầy nhân văn: Đánh thắng địch nhưng phải hạn chế thấp nhất máu xương của chiến sĩ.

Nhưng có lẽ, điều khiến Đại tướng sống mãi trong lòng nhân dân không chỉ là những chiến công hiển hách, mà chính là sự giản dị đến khiêm nhường. Giữa ánh hào quang của một huyền thoại, ông vẫn luôn tự coi mình là "người lính già", là người học trò nhỏ của Bác Hồ, và khẳng định rằng: Mọi vinh quang đều thuộc về nhân dân.[Tập tin: 18-TB Tham gia lưu giữ và tuyên truyền các câu chuyện lịch sử với chủ đề "Câu chuyện thời hoa lửa".docx]

Mùa thu năm 1950, dưới lời kêu gọi các chiến sĩ, nhân dân đứng dậy tham gia chiến dịch tiến công vào phòng tuyến của quân Pháp trên chiến tuyến Cao Bằng – Lạng Sơn, chàng trai Phạm Trí Liên (Sinh năm 1930, trú tại TDP Phùng Hưng, phường Cảnh Thụy) khi ấy tròn 20 tuổi đã xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ. Ông kể, “Đó là những đêm hành quân xuyên rừng, đối mặt với đạn pháo, bệnh tật, thiếu thốn lương thực, thuốc men. Có đồng đội bị mảnh đạn văng vào làm mù mắt, có người mất cả đôi chân vì giẫm phải mìn. Ranh giới giữa sự sống và cái chết lúc ấy mong manh lắm. Thế nhưng, các chiến sĩ của ta đều kiên cường tiến về phía trước để thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả”. Con đường số 4 đoạn qua đèo Bông Lau - Lũng Phầy dài gần chục km thuộc địa phận huyện Tràng Định, giáp tỉnh Cao Bằng, có địa thế hiểm trở, một bên núi dựng, một bên khe sâu. Con đường đèo vắt ngang qua sườn núi được coi là “cửa tử” của mọi thế trận phục kích. Theo ông Phạm Trí Liên, những ngày sôi động đó, ông là lính trinh sát nên thường đi thực địa kiểm tra thì thấy cây cối um tùm, địa hình mấp mô. Tại đây, các tổ, đội công tác của ta tổ chức đào công sự kéo dài hàng km, đồng thời chuẩn bị các trận địa súng cối, súng bazooka. Khi nghe thấy tiếng ô tô của địch đi trên đường là lập tức triển khai lực lượng vây đánh. Địch cứ thế bị thất bại, tiêu diệt, quân ta phá hủy 53 xe, đốt cháy 10 vạn lít xăng, diệt 250 lính Âu- Phi trong đó có 2 sỹ quan. Đến tối 10/10/1950, huyện Tràng Định hoàn toàn giải phóng. Trên đường chỉ huy chiến dịch, tối cùng ngày, Bác Hồ đã gặp mặt cán bộ, chiến sỹ đại đoàn 308 và nhân dân xã Chi Lăng, huyện Tràng Định. Chiến thắng biên giới Thu - Đông 1950 đã làm phá sản kế hoạch quân sự, chính trị của thực dân Pháp. Nhờ chiến thắng này, chúng ta đã khai thông 750 km đường biên giới Việt - Trung với 35 vạn dân, phá thế kìm kẹp của thực dân Pháp đối với căn cứ địa Việt Bắc.

Sau đó, ông Liên lui về hậu phương tiếp tế cho một số chiến dịch như Hoàng Hoa Thám, chiến dịch Hà Nam Ninh,.. Đến đầu năm 1954 Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu (Bắc – Trung tâm – Nam) với mục đích biến nơi này thành “pháo đài bất khả xâm phạm”, dụ quân ta vào trận đánh lớn để “nghiền nát chủ lực Việt Minh”. Trong bối cảnh ấy, Bác Hồ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta anh dũng bước vào cuộc kháng chiến. Lúc ấy, người bộ đội cụ Hồ Phạm Chí Liên đã ra trận tiếp tục công cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước. Ông hành quân lên lĩnh điểm cao, “khó khăn nhất là địa hình đồi núi dốc, không có đường cơ động, quá trình thực hiện nhiệm vụ thường xuyên thiếu nước uống nên mất rất nhiều ngày anh em mới chiếm lĩnh được trận địa để bước vào chiến đấu", cựu chiến binh Phạm Trí Liên nhớ lại. Ông khi đó giữ chức Trung đội phó được giao nhiệm vụ bắn từ xa vào chiến trận của địch, ông kể lại “Sáng sớm, lệnh của sư đoàn yêu cầu đánh vào quân Pháp đang tập thể dục, ông cùng đồng đội cầm chiếc súng cối 160 li nấp ngay sau chiến hào bắn thẳng vào quân địch, tiêu diệt được 12 quân cùng 2 người bị thương nặng. Còn có một lần, quân địch rút lui, ông cùng những người chiến sĩ đã quả cảm cầm pháo đuổi theo cả đội quân đang tháo chạy, cùng lúc đánh tan ý định rút lui của quân Pháp, gần như hết cả một trung đội không ai đi được nữa”. Có những ngày, quân tiếp tế không tiếp cận được chiến trường, ông phải ăn muối, uống nước sông vô cùng đói khổ mệt nhoài, ông Liên nói “Hôm nào ăn ngon lắm cũng chỉ là ít nắm cơm với 1-2 chai nước cả tiểu đội chia nhau uống”. Chiến đấu anh dũng được gần 1 tháng, không may trong một lần bắn pháo, ông bị quân địch nhắm vào và bị thương nặng phải vào nhà thương binh nằm chữa trị suốt cả trận chiến. Nhưng không vì thế mà ông chịu trận trước số phận, trước sức khỏe. Sau khi phục hồi, có thể đi lại, ông đã cùng các bác sĩ giúp chữa trị cho các đồng đội khác, thỉnh thoảng vẫn theo dõi quân địch rồi báo về cho trung đoàn. Ông bảo, ngày nghe tin quân ta chiến thắng dường như mọi mệt mỏi, đau đớn trong ông đều tan biến, cuối cùng ông cũng có thể về bên vòng tay ấm áp của mẹ, của gia đình rồi...

71 năm đã trôi qua, song ký ức của những người cựu chiến binh về một thời hoa lửa trên chiến trường Điện Biên Phủ vẫn không hề xóa nhòa. Bởi đó là những năm tháng rực rỡ nhất, nơi họ đã dùng máu viết nên lịch sử bằng chiến thắng lừng "lẫy năm châu, chấn động địa cầu".

Cuộc đời ông Phạm Trí Liên là bản trường ca về lòng yêu nước, về sự hy sinh thầm lặng của cả một thế hệ. Câu chuyện của ông mãi là bài học quý giá, là ngọn lửa truyền lại cho thế hệ trẻ hôm nay về tình yêu Tổ quốc và tinh thần phụng sự không bao giờ tắt. “Các cháu, các con cứ nghe đấy, thấy đấy mà nhớ. Nhờ sự hy sinh của các anh nên mới có hòa bình hôm nay", ông Liên nghẹn ngào.

Bài viết tái hiện chân dung Anh hùng liệt sĩ Phan Đình Giót – người chiến sĩ đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai trong trận đánh cứ điểm Him Lam, mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Qua câu chuyện về sự hy sinh anh dũng ấy, bài viết khắc họa tinh thần quả cảm, ý chí quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh của thế hệ thanh niên thời kháng chiến, đồng thời gửi gắm thông điệp về trách nhiệm sống xứng đáng với hòa bình hôm nay.

Có những cái chết hóa thành bất tử,

Có những con người ngã xuống để Tổ quốc đứng lên.”

Phan Đình Giót sinh năm 1922 trong một gia đình nông dân nghèo ở Hà Tĩnh. Tuổi thơ của anh gắn liền với ruộng đồng khô cằn, với những mùa đói và nỗi cơ cực của một đất nước còn chìm trong ách đô hộ. Anh lớn lên giữa cảnh quê hương lầm than, nên trong trái tim sớm nhen nhóm một điều giản dị: mong được sống trong tự do.

Khi kháng chiến bùng nổ, anh tình nguyện lên đường nhập ngũ. Người thanh niên ấy không mang theo ước mơ cao sang, chỉ mang theo lòng yêu nước mộc mạc và ý chí bảo vệ quê hương. Trong quân ngũ, anh nổi tiếng là người gan dạ, luôn xung phong nhận nhiệm vụ khó khăn.

Tháng 3 năm 1954, tại cứ điểm Him Lam – cánh cửa thép bảo vệ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ – trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt. Hỏa lực từ lỗ châu mai của địch bắn ra dữ dội, chặn đứng nhiều đợt xung phong của bộ đội ta. Đồng đội ngã xuống, khói lửa mù trời, mặt đất rung chuyển bởi bom đạn.

Trong một đợt tiến công, Phan Đình Giót bị thương nặng. Máu chảy ướt đẫm áo, nhưng anh vẫn cố gắng bò lên phía trước. Trước mắt anh là lỗ châu mai đang phun ra những làn đạn chết chóc. Nếu không triệt phá được vị trí ấy, nhiều đồng đội sẽ tiếp tục hy sinh.

Trong khoảnh khắc sinh tử, anh đã đưa ra một quyết định không chút do dự: dồn hết sức lực còn lại, lao người về phía lỗ châu mai, lấy thân mình lấp kín họng súng.

Tiếng súng địch bất ngờ tắt lịm.

Con đường tiến công được mở ra.

Sự hy sinh ấy chỉ diễn ra trong vài giây ngắn ngủi, nhưng đã góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của trận Him Lam, mở màn cho chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” sau này.

Phan Đình Giót ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ. Anh không kịp trở về quê nhà, không kịp nhìn thấy ngày chiến thắng hoàn toàn. Nhưng chính sự ra đi ấy đã hóa thành một phần bất tử của lịch sử dân tộc.

Hôm nay, khi chúng ta ngồi trong lớp học yên bình, khi thành phố lên đèn rực rỡ, ít ai hình dung được rằng mỗi tấc đất bình yên này đều được đánh đổi bằng máu và thân xác của những con người như anh.

Câu chuyện của Phan Đình Giót không chỉ để kể về một hành động anh hùng.

Đó là lời nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay:

Đừng sống thờ ơ trong hòa bình.

Đừng quên rằng tự do chưa bao giờ là điều tự nhiên mà có.

Bởi có những con người đã lấy cả sinh mệnh của mình

để đổi lấy một ngày mai cho Tổ quốc.

Và khi nhớ về anh, ta hiểu rằng:

Sống xứng đáng – cũng là một cách tiếp nối “thời hoa lửa”.

Bài viết là nén tâm hương tri ân, tái hiện chân dung huyền thoại của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Giữa những năm tháng "hoa lửa" rực cháy, ông không chỉ là vị Tổng tư lệnh thép mà còn là người anh cả giản dị của Quân đội Nhân dân Việt Nam, người đã biến niềm tin của nhân dân thành sức mạnh xoay chuyển lịch sử.

Lịch sử được viết bằng máu, nếu lãng quên, chúng ta sẽ phải dùng máu để viết lại.”

Lịch sử dân tộc Việt Nam không chỉ là những con số khô khan trên trang giấy, mà là một bản anh hùng ca được tấu lên bằng nhịp đập của triệu trái tim yêu nước, bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu xương hòa vào lòng đất mẹ. Giữa khúc tráng ca đầy bi tráng của những năm tháng chiến tranh "hoa lửa" ấy, có một cái tên đã trở thành biểu tượng bất diệt, một tượng đài về trí tuệ và nhân cách: Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Ngược dòng thời gian về dải đất miền Trung đầy nắng gió Quảng Bình năm 1911, cậu thiếu niên Võ Nguyên Giáp đã sớm mang trong mình dòng máu sục sôi của một người con mất nước. Không chọn sự an bài, ông dấn thân vào bão táp cách mạng từ những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường. Dẫu gông cùm của thực dân có siết chặt, dẫu ngục tù có khắc nghiệt, ý chí của người tri thức trẻ ấy vẫn vẹn nguyên một lời thề: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.

Bước ngoặt lịch sử đến vào tháng 12 năm 1944. Giữa đại ngàn Cao Bằng, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 34 chiến sĩ đầu tiên của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã tuyên thệ dưới lá cờ đỏ sao vàng. Đó chính là những "hạt giống đỏ" đầu tiên mà người anh cả Võ Nguyên Giáp gieo xuống, để rồi lớn mạnh thành một đội quân bách chiến bách thắng. Ở tuổi 37, ông nhận quân hàm Đại tướng – vị Đại tướng đầu tiên của một dân tộc chưa có tên trên bản đồ quân sự thế giới lúc bấy giờ.

Nhắc đến ông là nhắc đến "Điện Biên Phủ" – hai tiếng vang lên như sấm rền giữa thế kỷ XX. Bằng nhãn quan chiến thuật sắc bén và quyết định lịch sử "đánh chắc, tiến chắc", ông đã dẫn dắt những đôi chân trần chí thép làm nên kỳ tích "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu". Thế giới nghiêng mình trước một vị tướng không qua trường lớp quân sự chính quy nào, nhưng lại sở hữu một nghệ thuật cầm quân đầy nhân văn: Đánh thắng địch nhưng phải hạn chế thấp nhất máu xương của chiến sĩ.

Nhưng có lẽ, điều khiến Đại tướng sống mãi trong lòng nhân dân không chỉ là những chiến công hiển hách, mà chính là sự giản dị đến khiêm nhường. Giữa ánh hào quang của một huyền thoại, ông vẫn luôn tự coi mình là "người lính già", là người học trò nhỏ của Bác Hồ, và khẳng định rằng: Mọi vinh quang đều thuộc về nhân dân.[Tập tin: 18-TB Tham gia lưu giữ và tuyên truyền các câu chuyện lịch sử với chủ đề "Câu chuyện thời hoa lửa".docx]

Mùa thu năm 1950, dưới lời kêu gọi các chiến sĩ, nhân dân đứng dậy tham gia chiến dịch tiến công vào phòng tuyến của quân Pháp trên chiến tuyến Cao Bằng – Lạng Sơn, chàng trai Phạm Trí Liên (Sinh năm 1930, trú tại TDP Phùng Hưng, phường Cảnh Thụy) khi ấy tròn 20 tuổi đã xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ. Ông kể, “Đó là những đêm hành quân xuyên rừng, đối mặt với đạn pháo, bệnh tật, thiếu thốn lương thực, thuốc men. Có đồng đội bị mảnh đạn văng vào làm mù mắt, có người mất cả đôi chân vì giẫm phải mìn. Ranh giới giữa sự sống và cái chết lúc ấy mong manh lắm. Thế nhưng, các chiến sĩ của ta đều kiên cường tiến về phía trước để thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả”. Con đường số 4 đoạn qua đèo Bông Lau - Lũng Phầy dài gần chục km thuộc địa phận huyện Tràng Định, giáp tỉnh Cao Bằng, có địa thế hiểm trở, một bên núi dựng, một bên khe sâu. Con đường đèo vắt ngang qua sườn núi được coi là “cửa tử” của mọi thế trận phục kích. Theo ông Phạm Trí Liên, những ngày sôi động đó, ông là lính trinh sát nên thường đi thực địa kiểm tra thì thấy cây cối um tùm, địa hình mấp mô. Tại đây, các tổ, đội công tác của ta tổ chức đào công sự kéo dài hàng km, đồng thời chuẩn bị các trận địa súng cối, súng bazooka. Khi nghe thấy tiếng ô tô của địch đi trên đường là lập tức triển khai lực lượng vây đánh. Địch cứ thế bị thất bại, tiêu diệt, quân ta phá hủy 53 xe, đốt cháy 10 vạn lít xăng, diệt 250 lính Âu- Phi trong đó có 2 sỹ quan. Đến tối 10/10/1950, huyện Tràng Định hoàn toàn giải phóng. Trên đường chỉ huy chiến dịch, tối cùng ngày, Bác Hồ đã gặp mặt cán bộ, chiến sỹ đại đoàn 308 và nhân dân xã Chi Lăng, huyện Tràng Định. Chiến thắng biên giới Thu - Đông 1950 đã làm phá sản kế hoạch quân sự, chính trị của thực dân Pháp. Nhờ chiến thắng này, chúng ta đã khai thông 750 km đường biên giới Việt - Trung với 35 vạn dân, phá thế kìm kẹp của thực dân Pháp đối với căn cứ địa Việt Bắc.

Sau đó, ông Liên lui về hậu phương tiếp tế cho một số chiến dịch như Hoàng Hoa Thám, chiến dịch Hà Nam Ninh,.. Đến đầu năm 1954 Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu (Bắc – Trung tâm – Nam) với mục đích biến nơi này thành “pháo đài bất khả xâm phạm”, dụ quân ta vào trận đánh lớn để “nghiền nát chủ lực Việt Minh”. Trong bối cảnh ấy, Bác Hồ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta anh dũng bước vào cuộc kháng chiến. Lúc ấy, người bộ đội cụ Hồ Phạm Chí Liên đã ra trận tiếp tục công cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước. Ông hành quân lên lĩnh điểm cao, “khó khăn nhất là địa hình đồi núi dốc, không có đường cơ động, quá trình thực hiện nhiệm vụ thường xuyên thiếu nước uống nên mất rất nhiều ngày anh em mới chiếm lĩnh được trận địa để bước vào chiến đấu", cựu chiến binh Phạm Trí Liên nhớ lại. Ông khi đó giữ chức Trung đội phó được giao nhiệm vụ bắn từ xa vào chiến trận của địch, ông kể lại “Sáng sớm, lệnh của sư đoàn yêu cầu đánh vào quân Pháp đang tập thể dục, ông cùng đồng đội cầm chiếc súng cối 160 li nấp ngay sau chiến hào bắn thẳng vào quân địch, tiêu diệt được 12 quân cùng 2 người bị thương nặng. Còn có một lần, quân địch rút lui, ông cùng những người chiến sĩ đã quả cảm cầm pháo đuổi theo cả đội quân đang tháo chạy, cùng lúc đánh tan ý định rút lui của quân Pháp, gần như hết cả một trung đội không ai đi được nữa”. Có những ngày, quân tiếp tế không tiếp cận được chiến trường, ông phải ăn muối, uống nước sông vô cùng đói khổ mệt nhoài, ông Liên nói “Hôm nào ăn ngon lắm cũng chỉ là ít nắm cơm với 1-2 chai nước cả tiểu đội chia nhau uống”. Chiến đấu anh dũng được gần 1 tháng, không may trong một lần bắn pháo, ông bị quân địch nhắm vào và bị thương nặng phải vào nhà thương binh nằm chữa trị suốt cả trận chiến. Nhưng không vì thế mà ông chịu trận trước số phận, trước sức khỏe. Sau khi phục hồi, có thể đi lại, ông đã cùng các bác sĩ giúp chữa trị cho các đồng đội khác, thỉnh thoảng vẫn theo dõi quân địch rồi báo về cho trung đoàn. Ông bảo, ngày nghe tin quân ta chiến thắng dường như mọi mệt mỏi, đau đớn trong ông đều tan biến, cuối cùng ông cũng có thể về bên vòng tay ấm áp của mẹ, của gia đình rồi...

71 năm đã trôi qua, song ký ức của những người cựu chiến binh về một thời hoa lửa trên chiến trường Điện Biên Phủ vẫn không hề xóa nhòa. Bởi đó là những năm tháng rực rỡ nhất, nơi họ đã dùng máu viết nên lịch sử bằng chiến thắng lừng "lẫy năm châu, chấn động địa cầu".

Cuộc đời ông Phạm Trí Liên là bản trường ca về lòng yêu nước, về sự hy sinh thầm lặng của cả một thế hệ. Câu chuyện của ông mãi là bài học quý giá, là ngọn lửa truyền lại cho thế hệ trẻ hôm nay về tình yêu Tổ quốc và tinh thần phụng sự không bao giờ tắt. “Các cháu, các con cứ nghe đấy, thấy đấy mà nhớ. Nhờ sự hy sinh của các anh nên mới có hòa bình hôm nay", ông Liên nghẹn ngào.

Bài viết tái hiện chân dung Anh hùng liệt sĩ Phan Đình Giót – người chiến sĩ đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai trong trận đánh cứ điểm Him Lam, mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Qua câu chuyện về sự hy sinh anh dũng ấy, bài viết khắc họa tinh thần quả cảm, ý chí quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh của thế hệ thanh niên thời kháng chiến, đồng thời gửi gắm thông điệp về trách nhiệm sống xứng đáng với hòa bình hôm nay.

Có những cái chết hóa thành bất tử,

Có những con người ngã xuống để Tổ quốc đứng lên.”

Phan Đình Giót sinh năm 1922 trong một gia đình nông dân nghèo ở Hà Tĩnh. Tuổi thơ của anh gắn liền với ruộng đồng khô cằn, với những mùa đói và nỗi cơ cực của một đất nước còn chìm trong ách đô hộ. Anh lớn lên giữa cảnh quê hương lầm than, nên trong trái tim sớm nhen nhóm một điều giản dị: mong được sống trong tự do.

Khi kháng chiến bùng nổ, anh tình nguyện lên đường nhập ngũ. Người thanh niên ấy không mang theo ước mơ cao sang, chỉ mang theo lòng yêu nước mộc mạc và ý chí bảo vệ quê hương. Trong quân ngũ, anh nổi tiếng là người gan dạ, luôn xung phong nhận nhiệm vụ khó khăn.

Tháng 3 năm 1954, tại cứ điểm Him Lam – cánh cửa thép bảo vệ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ – trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt. Hỏa lực từ lỗ châu mai của địch bắn ra dữ dội, chặn đứng nhiều đợt xung phong của bộ đội ta. Đồng đội ngã xuống, khói lửa mù trời, mặt đất rung chuyển bởi bom đạn.

Trong một đợt tiến công, Phan Đình Giót bị thương nặng. Máu chảy ướt đẫm áo, nhưng anh vẫn cố gắng bò lên phía trước. Trước mắt anh là lỗ châu mai đang phun ra những làn đạn chết chóc. Nếu không triệt phá được vị trí ấy, nhiều đồng đội sẽ tiếp tục hy sinh.

Trong khoảnh khắc sinh tử, anh đã đưa ra một quyết định không chút do dự: dồn hết sức lực còn lại, lao người về phía lỗ châu mai, lấy thân mình lấp kín họng súng.

Tiếng súng địch bất ngờ tắt lịm.

Con đường tiến công được mở ra.

Sự hy sinh ấy chỉ diễn ra trong vài giây ngắn ngủi, nhưng đã góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của trận Him Lam, mở màn cho chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” sau này.

Phan Đình Giót ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ. Anh không kịp trở về quê nhà, không kịp nhìn thấy ngày chiến thắng hoàn toàn. Nhưng chính sự ra đi ấy đã hóa thành một phần bất tử của lịch sử dân tộc.

Hôm nay, khi chúng ta ngồi trong lớp học yên bình, khi thành phố lên đèn rực rỡ, ít ai hình dung được rằng mỗi tấc đất bình yên này đều được đánh đổi bằng máu và thân xác của những con người như anh.

Câu chuyện của Phan Đình Giót không chỉ để kể về một hành động anh hùng.

Đó là lời nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay:

Đừng sống thờ ơ trong hòa bình.

Đừng quên rằng tự do chưa bao giờ là điều tự nhiên mà có.

Bởi có những con người đã lấy cả sinh mệnh của mình

để đổi lấy một ngày mai cho Tổ quốc.

Và khi nhớ về anh, ta hiểu rằng:

Sống xứng đáng – cũng là một cách tiếp nối “thời hoa lửa”.

Bài viết là nén tâm hương tri ân, tái hiện chân dung huyền thoại của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Giữa những năm tháng "hoa lửa" rực cháy, ông không chỉ là vị Tổng tư lệnh thép mà còn là người anh cả giản dị của Quân đội Nhân dân Việt Nam, người đã biến niềm tin của nhân dân thành sức mạnh xoay chuyển lịch sử.

Lịch sử được viết bằng máu, nếu lãng quên, chúng ta sẽ phải dùng máu để viết lại.”

Lịch sử dân tộc Việt Nam không chỉ là những con số khô khan trên trang giấy, mà là một bản anh hùng ca được tấu lên bằng nhịp đập của triệu trái tim yêu nước, bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu xương hòa vào lòng đất mẹ. Giữa khúc tráng ca đầy bi tráng của những năm tháng chiến tranh "hoa lửa" ấy, có một cái tên đã trở thành biểu tượng bất diệt, một tượng đài về trí tuệ và nhân cách: Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Ngược dòng thời gian về dải đất miền Trung đầy nắng gió Quảng Bình năm 1911, cậu thiếu niên Võ Nguyên Giáp đã sớm mang trong mình dòng máu sục sôi của một người con mất nước. Không chọn sự an bài, ông dấn thân vào bão táp cách mạng từ những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường. Dẫu gông cùm của thực dân có siết chặt, dẫu ngục tù có khắc nghiệt, ý chí của người tri thức trẻ ấy vẫn vẹn nguyên một lời thề: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.

Bước ngoặt lịch sử đến vào tháng 12 năm 1944. Giữa đại ngàn Cao Bằng, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 34 chiến sĩ đầu tiên của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã tuyên thệ dưới lá cờ đỏ sao vàng. Đó chính là những "hạt giống đỏ" đầu tiên mà người anh cả Võ Nguyên Giáp gieo xuống, để rồi lớn mạnh thành một đội quân bách chiến bách thắng. Ở tuổi 37, ông nhận quân hàm Đại tướng – vị Đại tướng đầu tiên của một dân tộc chưa có tên trên bản đồ quân sự thế giới lúc bấy giờ.

Nhắc đến ông là nhắc đến "Điện Biên Phủ" – hai tiếng vang lên như sấm rền giữa thế kỷ XX. Bằng nhãn quan chiến thuật sắc bén và quyết định lịch sử "đánh chắc, tiến chắc", ông đã dẫn dắt những đôi chân trần chí thép làm nên kỳ tích "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu". Thế giới nghiêng mình trước một vị tướng không qua trường lớp quân sự chính quy nào, nhưng lại sở hữu một nghệ thuật cầm quân đầy nhân văn: Đánh thắng địch nhưng phải hạn chế thấp nhất máu xương của chiến sĩ.

Nhưng có lẽ, điều khiến Đại tướng sống mãi trong lòng nhân dân không chỉ là những chiến công hiển hách, mà chính là sự giản dị đến khiêm nhường. Giữa ánh hào quang của một huyền thoại, ông vẫn luôn tự coi mình là "người lính già", là người học trò nhỏ của Bác Hồ, và khẳng định rằng: Mọi vinh quang đều thuộc về nhân dân.[Tập tin: 18-TB Tham gia lưu giữ và tuyên truyền các câu chuyện lịch sử với chủ đề "Câu chuyện thời hoa lửa".docx]

Mùa thu năm 1950, dưới lời kêu gọi các chiến sĩ, nhân dân đứng dậy tham gia chiến dịch tiến công vào phòng tuyến của quân Pháp trên chiến tuyến Cao Bằng – Lạng Sơn, chàng trai Phạm Trí Liên (Sinh năm 1930, trú tại TDP Phùng Hưng, phường Cảnh Thụy) khi ấy tròn 20 tuổi đã xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ. Ông kể, “Đó là những đêm hành quân xuyên rừng, đối mặt với đạn pháo, bệnh tật, thiếu thốn lương thực, thuốc men. Có đồng đội bị mảnh đạn văng vào làm mù mắt, có người mất cả đôi chân vì giẫm phải mìn. Ranh giới giữa sự sống và cái chết lúc ấy mong manh lắm. Thế nhưng, các chiến sĩ của ta đều kiên cường tiến về phía trước để thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả”. Con đường số 4 đoạn qua đèo Bông Lau - Lũng Phầy dài gần chục km thuộc địa phận huyện Tràng Định, giáp tỉnh Cao Bằng, có địa thế hiểm trở, một bên núi dựng, một bên khe sâu. Con đường đèo vắt ngang qua sườn núi được coi là “cửa tử” của mọi thế trận phục kích. Theo ông Phạm Trí Liên, những ngày sôi động đó, ông là lính trinh sát nên thường đi thực địa kiểm tra thì thấy cây cối um tùm, địa hình mấp mô. Tại đây, các tổ, đội công tác của ta tổ chức đào công sự kéo dài hàng km, đồng thời chuẩn bị các trận địa súng cối, súng bazooka. Khi nghe thấy tiếng ô tô của địch đi trên đường là lập tức triển khai lực lượng vây đánh. Địch cứ thế bị thất bại, tiêu diệt, quân ta phá hủy 53 xe, đốt cháy 10 vạn lít xăng, diệt 250 lính Âu- Phi trong đó có 2 sỹ quan. Đến tối 10/10/1950, huyện Tràng Định hoàn toàn giải phóng. Trên đường chỉ huy chiến dịch, tối cùng ngày, Bác Hồ đã gặp mặt cán bộ, chiến sỹ đại đoàn 308 và nhân dân xã Chi Lăng, huyện Tràng Định. Chiến thắng biên giới Thu - Đông 1950 đã làm phá sản kế hoạch quân sự, chính trị của thực dân Pháp. Nhờ chiến thắng này, chúng ta đã khai thông 750 km đường biên giới Việt - Trung với 35 vạn dân, phá thế kìm kẹp của thực dân Pháp đối với căn cứ địa Việt Bắc.

Sau đó, ông Liên lui về hậu phương tiếp tế cho một số chiến dịch như Hoàng Hoa Thám, chiến dịch Hà Nam Ninh,.. Đến đầu năm 1954 Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu (Bắc – Trung tâm – Nam) với mục đích biến nơi này thành “pháo đài bất khả xâm phạm”, dụ quân ta vào trận đánh lớn để “nghiền nát chủ lực Việt Minh”. Trong bối cảnh ấy, Bác Hồ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta anh dũng bước vào cuộc kháng chiến. Lúc ấy, người bộ đội cụ Hồ Phạm Chí Liên đã ra trận tiếp tục công cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước. Ông hành quân lên lĩnh điểm cao, “khó khăn nhất là địa hình đồi núi dốc, không có đường cơ động, quá trình thực hiện nhiệm vụ thường xuyên thiếu nước uống nên mất rất nhiều ngày anh em mới chiếm lĩnh được trận địa để bước vào chiến đấu", cựu chiến binh Phạm Trí Liên nhớ lại. Ông khi đó giữ chức Trung đội phó được giao nhiệm vụ bắn từ xa vào chiến trận của địch, ông kể lại “Sáng sớm, lệnh của sư đoàn yêu cầu đánh vào quân Pháp đang tập thể dục, ông cùng đồng đội cầm chiếc súng cối 160 li nấp ngay sau chiến hào bắn thẳng vào quân địch, tiêu diệt được 12 quân cùng 2 người bị thương nặng. Còn có một lần, quân địch rút lui, ông cùng những người chiến sĩ đã quả cảm cầm pháo đuổi theo cả đội quân đang tháo chạy, cùng lúc đánh tan ý định rút lui của quân Pháp, gần như hết cả một trung đội không ai đi được nữa”. Có những ngày, quân tiếp tế không tiếp cận được chiến trường, ông phải ăn muối, uống nước sông vô cùng đói khổ mệt nhoài, ông Liên nói “Hôm nào ăn ngon lắm cũng chỉ là ít nắm cơm với 1-2 chai nước cả tiểu đội chia nhau uống”. Chiến đấu anh dũng được gần 1 tháng, không may trong một lần bắn pháo, ông bị quân địch nhắm vào và bị thương nặng phải vào nhà thương binh nằm chữa trị suốt cả trận chiến. Nhưng không vì thế mà ông chịu trận trước số phận, trước sức khỏe. Sau khi phục hồi, có thể đi lại, ông đã cùng các bác sĩ giúp chữa trị cho các đồng đội khác, thỉnh thoảng vẫn theo dõi quân địch rồi báo về cho trung đoàn. Ông bảo, ngày nghe tin quân ta chiến thắng dường như mọi mệt mỏi, đau đớn trong ông đều tan biến, cuối cùng ông cũng có thể về bên vòng tay ấm áp của mẹ, của gia đình rồi...

71 năm đã trôi qua, song ký ức của những người cựu chiến binh về một thời hoa lửa trên chiến trường Điện Biên Phủ vẫn không hề xóa nhòa. Bởi đó là những năm tháng rực rỡ nhất, nơi họ đã dùng máu viết nên lịch sử bằng chiến thắng lừng "lẫy năm châu, chấn động địa cầu".

Cuộc đời ông Phạm Trí Liên là bản trường ca về lòng yêu nước, về sự hy sinh thầm lặng của cả một thế hệ. Câu chuyện của ông mãi là bài học quý giá, là ngọn lửa truyền lại cho thế hệ trẻ hôm nay về tình yêu Tổ quốc và tinh thần phụng sự không bao giờ tắt. “Các cháu, các con cứ nghe đấy, thấy đấy mà nhớ. Nhờ sự hy sinh của các anh nên mới có hòa bình hôm nay", ông Liên nghẹn ngào.

Bài viết tái hiện chân dung Anh hùng liệt sĩ Phan Đình Giót – người chiến sĩ đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai trong trận đánh cứ điểm Him Lam, mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Qua câu chuyện về sự hy sinh anh dũng ấy, bài viết khắc họa tinh thần quả cảm, ý chí quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh của thế hệ thanh niên thời kháng chiến, đồng thời gửi gắm thông điệp về trách nhiệm sống xứng đáng với hòa bình hôm nay.

Có những cái chết hóa thành bất tử,

Có những con người ngã xuống để Tổ quốc đứng lên.”

Phan Đình Giót sinh năm 1922 trong một gia đình nông dân nghèo ở Hà Tĩnh. Tuổi thơ của anh gắn liền với ruộng đồng khô cằn, với những mùa đói và nỗi cơ cực của một đất nước còn chìm trong ách đô hộ. Anh lớn lên giữa cảnh quê hương lầm than, nên trong trái tim sớm nhen nhóm một điều giản dị: mong được sống trong tự do.

Khi kháng chiến bùng nổ, anh tình nguyện lên đường nhập ngũ. Người thanh niên ấy không mang theo ước mơ cao sang, chỉ mang theo lòng yêu nước mộc mạc và ý chí bảo vệ quê hương. Trong quân ngũ, anh nổi tiếng là người gan dạ, luôn xung phong nhận nhiệm vụ khó khăn.

Tháng 3 năm 1954, tại cứ điểm Him Lam – cánh cửa thép bảo vệ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ – trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt. Hỏa lực từ lỗ châu mai của địch bắn ra dữ dội, chặn đứng nhiều đợt xung phong của bộ đội ta. Đồng đội ngã xuống, khói lửa mù trời, mặt đất rung chuyển bởi bom đạn.

Trong một đợt tiến công, Phan Đình Giót bị thương nặng. Máu chảy ướt đẫm áo, nhưng anh vẫn cố gắng bò lên phía trước. Trước mắt anh là lỗ châu mai đang phun ra những làn đạn chết chóc. Nếu không triệt phá được vị trí ấy, nhiều đồng đội sẽ tiếp tục hy sinh.

Trong khoảnh khắc sinh tử, anh đã đưa ra một quyết định không chút do dự: dồn hết sức lực còn lại, lao người về phía lỗ châu mai, lấy thân mình lấp kín họng súng.

Tiếng súng địch bất ngờ tắt lịm.

Con đường tiến công được mở ra.

Sự hy sinh ấy chỉ diễn ra trong vài giây ngắn ngủi, nhưng đã góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của trận Him Lam, mở màn cho chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” sau này.

Phan Đình Giót ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ. Anh không kịp trở về quê nhà, không kịp nhìn thấy ngày chiến thắng hoàn toàn. Nhưng chính sự ra đi ấy đã hóa thành một phần bất tử của lịch sử dân tộc.

Hôm nay, khi chúng ta ngồi trong lớp học yên bình, khi thành phố lên đèn rực rỡ, ít ai hình dung được rằng mỗi tấc đất bình yên này đều được đánh đổi bằng máu và thân xác của những con người như anh.

Câu chuyện của Phan Đình Giót không chỉ để kể về một hành động anh hùng.

Đó là lời nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay:

Đừng sống thờ ơ trong hòa bình.

Đừng quên rằng tự do chưa bao giờ là điều tự nhiên mà có.

Bởi có những con người đã lấy cả sinh mệnh của mình

để đổi lấy một ngày mai cho Tổ quốc.

Và khi nhớ về anh, ta hiểu rằng:

Sống xứng đáng – cũng là một cách tiếp nối “thời hoa lửa”.

Bài viết là nén tâm hương tri ân, tái hiện chân dung huyền thoại của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Giữa những năm tháng "hoa lửa" rực cháy, ông không chỉ là vị Tổng tư lệnh thép mà còn là người anh cả giản dị của Quân đội Nhân dân Việt Nam, người đã biến niềm tin của nhân dân thành sức mạnh xoay chuyển lịch sử.

Lịch sử được viết bằng máu, nếu lãng quên, chúng ta sẽ phải dùng máu để viết lại.”

Lịch sử dân tộc Việt Nam không chỉ là những con số khô khan trên trang giấy, mà là một bản anh hùng ca được tấu lên bằng nhịp đập của triệu trái tim yêu nước, bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu xương hòa vào lòng đất mẹ. Giữa khúc tráng ca đầy bi tráng của những năm tháng chiến tranh "hoa lửa" ấy, có một cái tên đã trở thành biểu tượng bất diệt, một tượng đài về trí tuệ và nhân cách: Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Ngược dòng thời gian về dải đất miền Trung đầy nắng gió Quảng Bình năm 1911, cậu thiếu niên Võ Nguyên Giáp đã sớm mang trong mình dòng máu sục sôi của một người con mất nước. Không chọn sự an bài, ông dấn thân vào bão táp cách mạng từ những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường. Dẫu gông cùm của thực dân có siết chặt, dẫu ngục tù có khắc nghiệt, ý chí của người tri thức trẻ ấy vẫn vẹn nguyên một lời thề: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.

Bước ngoặt lịch sử đến vào tháng 12 năm 1944. Giữa đại ngàn Cao Bằng, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 34 chiến sĩ đầu tiên của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã tuyên thệ dưới lá cờ đỏ sao vàng. Đó chính là những "hạt giống đỏ" đầu tiên mà người anh cả Võ Nguyên Giáp gieo xuống, để rồi lớn mạnh thành một đội quân bách chiến bách thắng. Ở tuổi 37, ông nhận quân hàm Đại tướng – vị Đại tướng đầu tiên của một dân tộc chưa có tên trên bản đồ quân sự thế giới lúc bấy giờ.

Nhắc đến ông là nhắc đến "Điện Biên Phủ" – hai tiếng vang lên như sấm rền giữa thế kỷ XX. Bằng nhãn quan chiến thuật sắc bén và quyết định lịch sử "đánh chắc, tiến chắc", ông đã dẫn dắt những đôi chân trần chí thép làm nên kỳ tích "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu". Thế giới nghiêng mình trước một vị tướng không qua trường lớp quân sự chính quy nào, nhưng lại sở hữu một nghệ thuật cầm quân đầy nhân văn: Đánh thắng địch nhưng phải hạn chế thấp nhất máu xương của chiến sĩ.

Nhưng có lẽ, điều khiến Đại tướng sống mãi trong lòng nhân dân không chỉ là những chiến công hiển hách, mà chính là sự giản dị đến khiêm nhường. Giữa ánh hào quang của một huyền thoại, ông vẫn luôn tự coi mình là "người lính già", là người học trò nhỏ của Bác Hồ, và khẳng định rằng: Mọi vinh quang đều thuộc về nhân dân.[Tập tin: 18-TB Tham gia lưu giữ và tuyên truyền các câu chuyện lịch sử với chủ đề "Câu chuyện thời hoa lửa".docx]

Mùa thu năm 1950, dưới lời kêu gọi các chiến sĩ, nhân dân đứng dậy tham gia chiến dịch tiến công vào phòng tuyến của quân Pháp trên chiến tuyến Cao Bằng – Lạng Sơn, chàng trai Phạm Trí Liên (Sinh năm 1930, trú tại TDP Phùng Hưng, phường Cảnh Thụy) khi ấy tròn 20 tuổi đã xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ. Ông kể, “Đó là những đêm hành quân xuyên rừng, đối mặt với đạn pháo, bệnh tật, thiếu thốn lương thực, thuốc men. Có đồng đội bị mảnh đạn văng vào làm mù mắt, có người mất cả đôi chân vì giẫm phải mìn. Ranh giới giữa sự sống và cái chết lúc ấy mong manh lắm. Thế nhưng, các chiến sĩ của ta đều kiên cường tiến về phía trước để thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả”. Con đường số 4 đoạn qua đèo Bông Lau - Lũng Phầy dài gần chục km thuộc địa phận huyện Tràng Định, giáp tỉnh Cao Bằng, có địa thế hiểm trở, một bên núi dựng, một bên khe sâu. Con đường đèo vắt ngang qua sườn núi được coi là “cửa tử” của mọi thế trận phục kích. Theo ông Phạm Trí Liên, những ngày sôi động đó, ông là lính trinh sát nên thường đi thực địa kiểm tra thì thấy cây cối um tùm, địa hình mấp mô. Tại đây, các tổ, đội công tác của ta tổ chức đào công sự kéo dài hàng km, đồng thời chuẩn bị các trận địa súng cối, súng bazooka. Khi nghe thấy tiếng ô tô của địch đi trên đường là lập tức triển khai lực lượng vây đánh. Địch cứ thế bị thất bại, tiêu diệt, quân ta phá hủy 53 xe, đốt cháy 10 vạn lít xăng, diệt 250 lính Âu- Phi trong đó có 2 sỹ quan. Đến tối 10/10/1950, huyện Tràng Định hoàn toàn giải phóng. Trên đường chỉ huy chiến dịch, tối cùng ngày, Bác Hồ đã gặp mặt cán bộ, chiến sỹ đại đoàn 308 và nhân dân xã Chi Lăng, huyện Tràng Định. Chiến thắng biên giới Thu - Đông 1950 đã làm phá sản kế hoạch quân sự, chính trị của thực dân Pháp. Nhờ chiến thắng này, chúng ta đã khai thông 750 km đường biên giới Việt - Trung với 35 vạn dân, phá thế kìm kẹp của thực dân Pháp đối với căn cứ địa Việt Bắc.

Sau đó, ông Liên lui về hậu phương tiếp tế cho một số chiến dịch như Hoàng Hoa Thám, chiến dịch Hà Nam Ninh,.. Đến đầu năm 1954 Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu (Bắc – Trung tâm – Nam) với mục đích biến nơi này thành “pháo đài bất khả xâm phạm”, dụ quân ta vào trận đánh lớn để “nghiền nát chủ lực Việt Minh”. Trong bối cảnh ấy, Bác Hồ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta anh dũng bước vào cuộc kháng chiến. Lúc ấy, người bộ đội cụ Hồ Phạm Chí Liên đã ra trận tiếp tục công cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước. Ông hành quân lên lĩnh điểm cao, “khó khăn nhất là địa hình đồi núi dốc, không có đường cơ động, quá trình thực hiện nhiệm vụ thường xuyên thiếu nước uống nên mất rất nhiều ngày anh em mới chiếm lĩnh được trận địa để bước vào chiến đấu", cựu chiến binh Phạm Trí Liên nhớ lại. Ông khi đó giữ chức Trung đội phó được giao nhiệm vụ bắn từ xa vào chiến trận của địch, ông kể lại “Sáng sớm, lệnh của sư đoàn yêu cầu đánh vào quân Pháp đang tập thể dục, ông cùng đồng đội cầm chiếc súng cối 160 li nấp ngay sau chiến hào bắn thẳng vào quân địch, tiêu diệt được 12 quân cùng 2 người bị thương nặng. Còn có một lần, quân địch rút lui, ông cùng những người chiến sĩ đã quả cảm cầm pháo đuổi theo cả đội quân đang tháo chạy, cùng lúc đánh tan ý định rút lui của quân Pháp, gần như hết cả một trung đội không ai đi được nữa”. Có những ngày, quân tiếp tế không tiếp cận được chiến trường, ông phải ăn muối, uống nước sông vô cùng đói khổ mệt nhoài, ông Liên nói “Hôm nào ăn ngon lắm cũng chỉ là ít nắm cơm với 1-2 chai nước cả tiểu đội chia nhau uống”. Chiến đấu anh dũng được gần 1 tháng, không may trong một lần bắn pháo, ông bị quân địch nhắm vào và bị thương nặng phải vào nhà thương binh nằm chữa trị suốt cả trận chiến. Nhưng không vì thế mà ông chịu trận trước số phận, trước sức khỏe. Sau khi phục hồi, có thể đi lại, ông đã cùng các bác sĩ giúp chữa trị cho các đồng đội khác, thỉnh thoảng vẫn theo dõi quân địch rồi báo về cho trung đoàn. Ông bảo, ngày nghe tin quân ta chiến thắng dường như mọi mệt mỏi, đau đớn trong ông đều tan biến, cuối cùng ông cũng có thể về bên vòng tay ấm áp của mẹ, của gia đình rồi...

71 năm đã trôi qua, song ký ức của những người cựu chiến binh về một thời hoa lửa trên chiến trường Điện Biên Phủ vẫn không hề xóa nhòa. Bởi đó là những năm tháng rực rỡ nhất, nơi họ đã dùng máu viết nên lịch sử bằng chiến thắng lừng "lẫy năm châu, chấn động địa cầu".

Cuộc đời ông Phạm Trí Liên là bản trường ca về lòng yêu nước, về sự hy sinh thầm lặng của cả một thế hệ. Câu chuyện của ông mãi là bài học quý giá, là ngọn lửa truyền lại cho thế hệ trẻ hôm nay về tình yêu Tổ quốc và tinh thần phụng sự không bao giờ tắt. “Các cháu, các con cứ nghe đấy, thấy đấy mà nhớ. Nhờ sự hy sinh của các anh nên mới có hòa bình hôm nay", ông Liên nghẹn ngào.

Bài viết tái hiện chân dung Anh hùng liệt sĩ Phan Đình Giót – người chiến sĩ đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai trong trận đánh cứ điểm Him Lam, mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Qua câu chuyện về sự hy sinh anh dũng ấy, bài viết khắc họa tinh thần quả cảm, ý chí quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh của thế hệ thanh niên thời kháng chiến, đồng thời gửi gắm thông điệp về trách nhiệm sống xứng đáng với hòa bình hôm nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn