Anh hùng Lực lượng vũ trang

Đại tướng Lê Đức Anh

Cần Thơ04/12/2025Nguyễn Khánh Đăng (Xã Cờ Đỏ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đại tướng Lê Đức Anh

Đại tướng Lê Đức Anh là một vị tướng, một nhà lãnh đạo tài năng, một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã có nhiều cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Cuộc đời của đồng chí Lê Đức Anh gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc và quân đội.

Đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh (bí danh Nguyễn Phú Hòa, Sáu Nam), sinh ngày 01/12/1920, tại xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất, nhà tan, chứng kiến cảnh người dân sống cơ cực dưới chế độ thực dân, phong kiến, đồng chí đã sớm được hun đúc lòng yêu nước và tinh thần đấu tranh cách mạng.

Năm 1937, khi mới 17 tuổi, đồng chí đã tham gia phong trào dân chủ ở Phú Vang, Thừa Thiên - Huế. Tháng 5/1938, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Từ năm 1939 đến năm 1943, địch khủng bố mạnh, mất liên lạc, đồng chí vào Hội An, Đà Lạt, Lộc Ninh, Thủ Dầu Một tham gia hoạt động trong các hội Ái hữu.

Tháng 8/1945, đồng chí được phân công phụ trách chỉ huy khởi nghĩa giành chính quyền ở các đồn điền cao su và hai huyện Hớn Quản, Bù Đốp, tỉnh Bình Phước. Thời gian này, đồng chí tham gia Quân đội, chỉ huy giành chính quyền ở Lộc Ninh, tham gia Tỉnh ủy lâm thời, phụ trách quân sự phía Bắc tỉnh Thủ Dầu Một. Từ tháng 11/1946 đến tháng 10/1948, đồng chí làm Chính trị viên Chi đội 1 (sau là Trung đoàn 301), Trung đoàn Ủy viên, Tỉnh Ủy viên Thủ Dầu Một.

Từ tháng 10/1948 đến tháng 01/1951, đồng chí được phân công làm Tham Mưu trưởng Khu 7, Tham Mưu trưởng Khu 8 rồi Tham Mưu trưởng Quân khu Sài Gòn - Chợ Lớn và Tham Mưu phó Bộ Tư lệnh Nam Bộ.

Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, đồng chí Lê Đức Anh tập kết ra Bắc. Từ tháng 5/1955 đến tháng 7/1965, đồng chí được bổ nhiệm giữ các chức Phó Cục trưởng Cục Tác chiến/ Bộ Tổng Tham mưu; Cục phó thứ Nhất Cục Quân lực/ Bộ Tổng Tham mưu (tháng 10/1957); Cục trưởng Cục Quân lực/ Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam (tháng 8/1961); Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (tháng 8/1963).

Tháng 8/1965, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Tham Mưu trưởng Bộ Tư lệnh miền Nam sau đó là Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh miền Nam (năm 1968) rồi Tư lệnh Khu 9, Phó Bí thư Khu ủy (năm 1969); Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh miền Nam (năm 1974); Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh cánh quân Tây Nam (năm 1975). Đồng chí đã trực tiếp tham gia và chỉ huy nhiều chiến dịch lớn như: Đánh bại cuộc hành quân mang tên Gian-xơn Xi-ti của Mỹ tấn công căn cứ của Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền ở Tây Ninh( năm 1967), chống địch lấn chiếm, phá hoại Hiệp định Pari (năm 1973) trên địa bàn Khu 9, cuộc Tổng tiến công nổi dậy Xuân Mậu Thân (năm 1968), Chiến dịch Hồ Chí Minh (năm 1975), góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Tháng 4/1974, đồng chí Lê Đức Anh được Đảng, Nhà nước thăng quân hàm vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng.

Từ tháng 5/1976, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh Quân khu 9. Tháng 6/1978, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7; tháng 1/1980, đồng chí được Chủ tịch nước ký quyết định thăng quân hàm Thượng tướng. Tháng 6/1981, Thượng tướng Lê Đức Anh được bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, đồng chí đã trực tiếp chỉ huy chiến trường và giành nhiều thắng lợi quan trọng, bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng. Đồng chí cũng là người trực tiếp thị sát, chỉ đạo và đóng góp quan trọng trong thực hiện chủ trương xây dựng thế trận phòng thủ vững chắc, quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Tháng 12/1984, đồng chí được Đảng, Nhà nước thăng quân hàm Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 12/1986, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 02/1987, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991), đồng chí được bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng.

Đồng chí Lê Đức Anh là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa IV, V, VI, VII, VIII; Bí thư Trung ương Đảng khóa VII; Ủy viên Bộ Chính trị các khóa V, VI, VII, VIII; Thường vụ Bộ Chính trị khóa VIII; Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ tháng 9/1992 đến tháng 12/1997); Từ năm 1998 đến tháng 4/2001, đồng chí là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng; Đại biểu Quốc hội các khóa VI, VIII, IX.

Khi giữ trọng trách Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với tầm tư duy chiến lược, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, tác phong sâu sát, đồng chí cùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước đề ra và chỉ đạo triển khai thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, đưa đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đồng chí đã được Đảng, Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng và nhiều huân chương, huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế.

Với 99 tuổi đời, hơn 80 năm tuổi Đảng, đồng chí “Đại tướng Lê Đức Anh là một vị tướng, một nhà lãnh đạo tài năng, một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã có nhiều cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Cuộc đời của đồng chí Lê Đức Anh gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc và quân đội”./.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn