Danh nhân Lê Quý Đôn: "Ngôi sao" sáng trên "bầu trời" văn hóa Việt Nam
Danh nhân Lê Quý Đôn sinh ngày 2/8/1726, mất ngày 11/6/1784, tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam (nay là xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên). Lúc nhỏ tên là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường. Ông là con cả của tiến sĩ Lê Phú Thứ (sau đổi thành Lê Trọng Thứ) - người từng làm đến chức Hình bộ Thượng thư. Mẹ ông là con gái một tiến sĩ từng trải qua nhiều chức quan.
Danh nhân văn hóa Lê Quý Ðôn. Nguồn: Báo Thanh niênTừ nhỏ, Lê Quý Đôn nổi tiếng là thần đồng ham học, thông minh, có trí nhớ siêu đẳng. Năm 2 tuổi, ông đã đọc được chữ "hữu" và "vô"; 5 tuổi đọc được nhiều bài trong Kinh Thi; năm 10 tuổi, ông học sử, mỗi ngày thuộc được 80 đến 90 chương và học Kinh Dịch về phần Cương hình và Đồ thuyết; năm 14 tuổi ông đã đọc hết Ngũ Kinh, Tứ Thư, Sử truyện và Chư tử. Đặc biệt, ông có thể làm 10 bài phú mà không phải nghĩ và không cần viết nháp.Có rất nhiều giai thoại bộc lộ tư chất hơn người của Lê Quý Đôn. Trong số ấy, không thể không nhắc tới bài thơ nôm "Rắn đầu biếng học" mà ông ứng biến khi Quan Thượng đến thăm nhà. Quan Thượng thấy ông thông minh nên muốn ông phải ứng khẩu một bài thơ. Khi Lê Quý Ðôn xin đề bài thì Quan Thượng nói rằng: "Phụ thân cậu đã bảo cậu rắn đầu, rắn cổ, vậy cậu cứ lấy đó làm đề bài". Sau một thoáng suy ngẫm, Lê Quý Ðôn đã đọc bài thơ với ngụ ý tự trách mình nhưng đã khiến cho Quan Thượng phải thán phục và khen: "Quả là thần đồng". Bài thơ ấy đến nay vẫn lưu danh trong sử sách:Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà,Rắn đầu biếng học lẽ không tha.Thẹn đèn, hổ lửa đau lòng mẹ,Nay thét mai gầm rát cổ cha.Ráo mép chỉ quen tuồng lếu láo,Lằn lưng cam chịu vết roi traTừ nay Trâu Lỗ xin siêng học,Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia.
Khu lưu niệm Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn tại Thái Bình (cũ), nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Ảnh: Vũ Quang – TTXVNNăm 14 tuổi, Lê Quý Ðôn đã theo cha lên kinh đô Thăng Long theo học thầy là tiến sĩ Lê Hữu Kiều. Nhờ trí tuệ uyên thâm mà 17 tuổi Lê Quý Đôn đi thi Hương đỗ Giải nguyên. 27 tuổi ông đỗ Hội nguyên, rồi đỗ Đình Nguyên Bảng nhãn (do khoa thi này không lấy Trạng nguyên).Sau khi đã đỗ đạt, Lê Quý Đôn được bổ làm quan và từng giữ nhiều chức vụ quan trọng của triều Lê-Trịnh, như: Hàn lâm thừa chỉ sung Toản tu quốc sử quán (năm 1754); Hàn lâm viện thị giảng (năm 1757); Đốc đồng xứ Kinh Bắc (năm 1764); Thị thư kiêm Tư nghiệp Quốc tử Giám (năm 1767); Tán lý quân vụ (năm 1768); Thị phó đô ngự sử, Công bộ hữu thị lang (năm 1769); Bồi tụng (năm 1773); Lại bộ tả thị lang kiêm Tổng tài quốc sử quán (năm 1775), Hiệp trấn tham tán quân cơ Trấn phủ Thuận Hóa (năm 1776); Hiệp trấn Nghệ An (năm 1783); Công bộ thượng thư (năm 1784)...Lê Quý Đôn nổi tiếng là một vị quan thanh liêm, cương trực, có tài năng và kiến thức uyên bác. Cuộc đời làm quan của Lê Quý Đôn đã có nhiều sự kiện ảnh hưởng lớn tới sự nghiệp trước tác, văn chương của ông. Những năm 1756, 1772, ông được cử đi điều tra tình hình thống khổ của nhân dân cùng tệ tham nhũng, ăn hối lộ của quan lại… ở Sơn Nam, Lạng Sơn.

