Danh nhân Lê Quý Đôn: "Ngôi sao" sáng trên "bầu trời" văn hóa Việt Nam
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Kim, Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, thành viên Ủy ban UNESCO thế giới nhận định: các tác phẩm của Lê Quý Đôn không chỉ là những công trình học thuật xuất sắc của Việt Nam mà còn phản ánh tầm nhìn khai sáng, bao quát toàn bộ những tri thức cao nhất của thời đại. Từ văn hóa, giáo dục, triết học đến xã hội, lịch sử, tất cả đều được ông luận bàn sâu sắc. Đặc biệt, những công trình của ông như "Kiến văn tiểu lục", "Phủ biên tạp lục", "Vân đài loại ngữ", "Đại Việt thông sử"... không chỉ có giá trị về mặt học thuật mà còn là di sản văn hóa dân tộc được bạn bè quốc tế công nhận. GS.TS Shimizu Masaaki - Đại học Osaka (Nhật Bản) trong tham luận của mình đã so sánh nhà bác học Lê Quý Đôn với nhà ngôn ngữ nổi tiếng Nhật Bản - nhà Quốc học Motoori Norinaga (1730-1801): "Lê Quý Đôn là người Việt Nam đầu tiên coi ngôn ngữ, văn tự là đối tượng để suy nghĩ, nhận thức. Ông là người đề xuất phương pháp nghiên cứu tiếng Việt đầu tiên trong lịch sử khoa học Việt Nam".
Lịch sử dân tộc Việt Nam không chỉ được viết nên bởi những chiến công hiển hách trên chiến trường mà còn được bồi đắp bởi trí tuệ của những bậc hiền tài. Trong dòng chảy ấy, Lê Quý Đôn là một trong những danh nhân tiêu biểu, người đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp học tập, nghiên cứu và phụng sự đất nước. Với vốn tri thức uyên bác, tư duy sắc sảo và tinh thần học hỏi không ngừng, ông được các thế hệ sau tôn vinh là nhà bác học lớn của Việt Nam, một "ngôi sao" sáng trên bầu trời văn hóa dân tộc.
Lê Quý Đôn sinh ngày 2 tháng 8 năm 1726 tại làng Diên Hà, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Hưng Yên), trong một gia đình có truyền thống hiếu học. Ngay từ nhỏ, ông đã nổi tiếng thông minh, ham đọc sách và có trí nhớ đặc biệt. Tương truyền, chỉ cần đọc qua một lần, ông có thể ghi nhớ nội dung và vận dụng linh hoạt vào học tập. Nhưng điều làm nên tầm vóc của Lê Quý Đôn không chỉ là năng khiếu thiên bẩm, mà còn là sự cần cù, bền bỉ và tinh thần tự học suốt đời. Ông từng dành hầu hết thời gian để đọc sách, khảo cứu, đối chiếu tài liệu và ghi chép cẩn thận, xem việc học là con đường để mở mang trí tuệ và giúp ích cho xã hội.
Năm 1752, Lê Quý Đôn đỗ Bảng nhãn và bước vào con đường làm quan dưới triều Lê. Trong suốt cuộc đời làm quan, ông đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng, từ biên soạn sử sách, giáo dục, ngoại giao đến quản lý hành chính. Dù ở cương vị nào, ông cũng luôn thể hiện tinh thần trách nhiệm, sự liêm chính và tư duy cải cách vì lợi ích của quốc gia. Ông không chỉ quan tâm đến việc trị nước mà còn dành nhiều tâm huyết nghiên cứu thực tiễn đời sống, kinh tế, nông nghiệp, văn hóa và giáo dục, với mong muốn tìm ra những giải pháp giúp đất nước phát triển.
Điều khiến hậu thế đặc biệt kính trọng Lê Quý Đôn là khối lượng trước tác đồ sộ cùng giá trị khoa học to lớn mà ông để lại. Ông là tác giả của hàng chục công trình nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực như lịch sử, địa lý, văn học, triết học, ngôn ngữ học, nông nghiệp và thiên văn. Những tác phẩm nổi tiếng như Vân đài loại ngữ, Kiến văn tiểu lục, Phủ biên tạp lục, Đại Việt thông sử... không chỉ phản ánh trình độ học thuật uyên thâm mà còn trở thành nguồn tư liệu quý giá giúp các thế hệ sau nghiên cứu về lịch sử, văn hóa và đời sống xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII.
Điểm đặc biệt trong tư tưởng của Lê Quý Đôn là ông luôn đề cao giá trị của tri thức và việc học. Theo ông, học không phải để phô trương hiểu biết hay mưu cầu công danh, mà trước hết là để hoàn thiện bản thân và cống hiến cho đất nước. Ông từng khẳng định: "Phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoạt, phi trí bất hưng" – không có nông nghiệp thì xã hội không ổn định, không có công nghiệp thì đất nước không giàu mạnh, không có thương nghiệp thì nền kinh tế không phát triển, và đặc biệt, không có tri thức thì quốc gia không thể hưng thịnh. Dù được diễn giải theo nhiều cách khác nhau qua các thời kỳ, tư tưởng ấy vẫn thể hiện tầm nhìn vượt thời đại về vai trò của tri thức đối với sự phát triển của quốc gia.
Nhìn lại cuộc đời của Lê Quý Đôn, có thể thấy ông không chỉ là một học giả xuất chúng mà còn là hiện thân của tinh thần hiếu học Việt Nam. Ông luôn trăn trở trước vận mệnh dân tộc, không ngừng tìm tòi, nghiên cứu để đóng góp cho đất nước. Từ những chuyến đi thực tế, những trang khảo cứu công phu đến những bản tổng kết giàu giá trị, tất cả đều phản ánh khát vọng dùng tri thức để phục vụ Nhân dân và xây dựng quốc gia hưng thịnh.
Ngày nay, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, những giá trị mà Lê Quý Đôn để lại càng trở nên ý nghĩa. Tri thức, sáng tạo và tinh thần học tập suốt đời chính là chìa khóa để mỗi cá nhân thích ứng với sự thay đổi và đóng góp vào sự phát triển của đất nước. Đối với đoàn viên, thanh niên, câu chuyện về Lê Quý Đôn không chỉ là câu chuyện của một danh nhân văn hóa mà còn là lời nhắc nhở về trách nhiệm học tập, rèn luyện, làm chủ khoa học – công nghệ và nuôi dưỡng khát vọng cống hiến.
Dự án "Câu chuyện thời hoa lửa" không chỉ kể về những người anh hùng nơi chiến trận mà còn tôn vinh những con người đã góp phần làm nên sức mạnh của dân tộc bằng trí tuệ và văn hóa. Nếu các thế hệ cha ông đã bảo vệ non sông bằng ý chí và lòng quả cảm, thì những bậc hiền tài như Lê Quý Đôn đã bồi đắp nền tảng tri thức, hun đúc bản sắc văn hóa và khẳng định truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam.
Gần ba thế kỷ đã trôi qua, nhưng ánh sáng từ trí tuệ và nhân cách của Lê Quý Đôn vẫn chưa bao giờ phai nhạt. Ông mãi là biểu tượng của tinh thần học tập không ngừng, của trách nhiệm với đất nước và khát vọng cống hiến vì cộng đồng. Đó cũng chính là thông điệp mà thế hệ trẻ hôm nay cần tiếp nối: không ngừng học hỏi, làm giàu tri thức, rèn luyện đạo đức và đem tài năng của mình phụng sự Tổ quốc, để những "ngôi sao" của thời đại mới tiếp tục tỏa sáng trên bầu trời Việt Nam.


