DANH SĨ PHẠM VĂN NGHỊ
DANH SĨ PHẠM VĂN NGHỊ

Danh sĩ Phạm Văn Nghị – Người đứng đầu sĩ phu Bắc Hà trong cuộc kháng Pháp nửa cuối thế kỷ XIX
Phạm Văn Nghị, hiệu Nghĩa Trai, sinh ngày 24-12-1805 tại xã Tam Đăng, tổng An Trung, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng (nay là thôn Tam Quang, xã Yên Thắng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định). Ông đỗ Cử nhân năm 1837, đỗ Hoàng giáp (đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân) năm 1838 và được triều đình Huế bổ làm quan tại Hàn lâm viện. Sau khi giữ các chức Tri phủ Lý Nhân (1839) và Biên tu Quốc sử quán (1841), đến năm 1846, nhận thấy quan trường nhiễu nhương, ông xin cáo quan về quê dạy học. Từ 1846 đến 1857, lớp lớp học trò của ông đã trở thành nhân tài cho đất nước như Nguyễn Khuyến, Tống Duy Tân, Đinh Công Tráng, Nguyễn Cao…
Năm 1857, ông được bổ làm Đốc học Nam Định. Đồng thời, ông xin mở trại Sĩ Lâm – nơi chiêu mộ trai tráng khai hoang và luyện võ, sau phát triển thành tổng Sĩ Lâm của huyện Nghĩa Hưng. Khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm bán đảo Sơn Trà năm 1858, Phạm Văn Nghị trở thành người đứng đầu sĩ phu Bắc Hà giương cao quyết tâm kháng chiến. Năm 1859, ông thảo “Trà Sơn kháng sớ” gửi vua Tự Đức, xin lập đội quân nghĩa dũng vào Đà Nẵng đánh giặc. Được triều đình đồng ý, cuối năm 1859 ông chiêu mộ 365 nghĩa dũng, quyên góp hơn 1 vạn quan tiền, lập 7 đội chia làm 3 đạo, trực tiếp chỉ huy tiến vào Nam.
Ngày 29-2-1860, đoàn nghĩa dũng xuất quân. Đến kinh đô Huế ngày 21-3-1860 thì quân Pháp đã chuyển đánh Gia Định. Xin vào Nam chiến đấu nhưng không được chấp thuận, đoàn quân được lệnh trở về Bắc, còn Phạm Văn Nghị được vua ban 4 chữ “Tuế hàn tùng bách”, khen ngợi khí tiết cứng cỏi.
Trở lại quê hương, ông lại dạy học rồi được bổ làm Thương biện hải phòng sứ Nam Định năm 1867. Trước âm mưu mở rộng xâm lược của Pháp, đoàn nghĩa binh do ông chỉ huy trở thành lực lượng quan trọng của nhân dân chống giặc. Ngày 10-12-1873, trong trận Độc Bộ (Yên Nhân, Ý Yên), ông trực tiếp chỉ huy đánh chặn đoàn tàu chiến của Francis Garnier. Dù lực lượng ít, ông cùng nghĩa binh đã chiến đấu từ 14 giờ đến 17 giờ, bắn hỏng tàu, tiêu diệt sinh lực địch và làm chậm bước tiến của Pháp. Ông còn sáng chế “độc luân xa” – loại lá chắn di động giúp bộ binh tiếp cận đánh giáp lá cà.
Sau khi Pháp chiếm thành Nam Định ngày 12-12-1873 và triều đình ký Hiệp ước Giáp Tuất (1874), ông phải giải tán đội nghĩa dũng, rồi xin nghỉ về động Liên Hoa (Ninh Bình) dạy học và viết sách. Ông mất ngày 11-1-1881.
Dù không lập được nhiều chiến công lớn, Phạm Văn Nghị mãi được ghi nhớ là người sĩ phu tiêu biểu, có tầm nhìn vượt thời đại, người đã dấy lên tinh thần yêu nước và khí phách chống ngoại xâm trong buổi đầu kháng Pháp.


