Bài viết

Đất Quảng - một thời con gái (1)

Tựa đề bài này chính là tên cuốn tự truyện vừa ra mắt của chị. Hơn 4 thập kỷ bị bại liệt do chiến tranh, chị như con chim họa mi cất tiếng hót gọi ban mai, lấy cây bút và trang giấy làm người bạn tâm giao bày tỏ nỗi niềm...

Hà Tĩnh10/04/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tựa đề bài này chính là tên cuốn tự truyện vừa ra mắt của chị. Hơn 4 thập kỷ bị bại liệt do chiến tranh, chị như con chim họa mi cất tiếng hót gọi ban mai, lấy cây bút và trang giấy làm người bạn tâm giao bày tỏ nỗi niềm. Trong tự truyện của chị, người đọc nhận ra nhiều thứ, nhiều điều đã tới, nhưng có một điều mãi mãi chẳng bao giờ tới đích được, đó là tình yêu đôi lứa…

Kỳ 5: Tôi nghe tôi hát

Chị là Trần Duy Phương (bí danh trong tù là Trần Thị Mai), quê ở Gò Nổi, Điện Bàn, Quảng Nam. Nơi sinh sống của chị hiện nay là một căn gác nhỏ nép mình dưới những tán cây xanh ngằn ngặt bên bờ kênh Nhiêu Lộc, quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh. Chị bảo, đây là căn nhà của người em trai. Là thương binh nặng đặc biệt hạng 1/4 bị bại liệt đã hơn 40 năm nay, từ ngày rời Quảng Nam vào TP Hồ Chí Minh sinh sống với gia đình người em trai, chị lấy niềm vui sáng tác văn chương, viết báo để bồi đắp cho thế giới tâm hồn của mình. Trước đây khi chưa có máy tính, chị sử dụng bút chì viết lên trang vở. “Tôi phải nằm để viết nên không thể dùng bút mực, bút bi. Từ ngày có máy tính, mọi việc đơn giản hơn nhiều” - chị nói.

Chị Phương thời thiếu nữ. Ảnh chụp lại.

Cảm hứng và đề tài xuyên suốt trong các tác phẩm của Trần Duy Phương là ký ức chiến tranh, là những năm tháng bị tù đày, tra tấn tàn khốc nhưng không lúc nào nhụt chí chiến đấu và khát vọng, niềm tin chiến thắng. Chị viết về những dấu ấn sâu sắc trong đời mình, về những đồng chí của mình. Văn của chị giản dị, mộc mạc như lời tâm tình thủ thỉ nhưng toát lên từ mỗi trang viết là những triết lý sống cao đẹp, thể hiện sâu sắc, phong phú lẽ sống của tuổi trẻ Việt Nam một thời oanh liệt. Cuốn tự truyện “Tôi nghe tôi hát” là tác phẩm dài hơi nhất của chị. Cuốn sách tái hiện chân thực, sinh động cuộc đời hoạt động cách mạng của chị, trọng tâm là những năm tháng bị địch bắt tù đày hết nhà tù này đến nhà tù khác, từ Quảng Nam, Đà Nẵng đến Bình Định, Cần Thơ… Viết về mình nhưng chị không hề tô vẽ, đánh bóng cá nhân, mà qua đó để nói về đồng đội, về những người bạn tù cùng chung lý tưởng. Ngay cả khi viết về những kẻ chiêu hồi, phản bội Tổ quốc trong tù, chị cũng cân nhắc thận trọng từng câu từng chữ và không nêu tên thật của họ.

Đọc đến dòng cuối cùng của cuốn hồi ký dài gần 230 trang, tôi hỏi chị Phương:

- Lý tưởng cách mạng và cuộc đấu tranh không khoan nhượng của những tù binh cộng sản trong nhà tù đế quốc đã được chị kể lại chi tiết, tường tận, nhưng những đoạn viết về tình cảm riêng tư, tình yêu đôi lứa thì có cảm giác chị “lướt” hơi nhanh?

Chị Phương chùng giọng:

- Những người con trai đem lòng yêu thương tôi ngày xưa đều đã hy sinh cả rồi. Chỉ còn một người, đến nay vẫn quan tâm chia sẻ, động viên tôi tận tình chu đáo như một người anh, nhưng anh cũng đã có gia đình, con cháu sum vầy. Mình chỉ kể lướt qua như là một kỷ niệm đẹp trong đời vậy thôi.

Người con trai chị nhắc đến ngày xưa ấy, cũng là đồng đội chiến đấu và là bạn tù của chị. Thời còn hoạt động cùng nhau, anh yêu chị lắm. Đạn bom khốc liệt và những trận càn quét tàn bạo của kẻ thù không thể giết chết tâm hồn lãng mạn của những chàng trai, cô gái tuổi đôi mươi. Anh ấy yêu chị mãnh liệt nhưng tất cả cũng chỉ mới dừng lại ở những lá thư. Anh đã gửi cho chị cả trăm bức thư và bao giờ cũng đề hai chữ “Lang quân” phía cuối thư. “Ngày ấy tôi thường nói với anh, ai thèm làm phu nhân mà anh dám tự nhận mình là Lang quân?” - Chị Phương nhắc lại kỷ niệm một thời con gái đất Quảng kiêu sa…

Ngày chị Phương ra mắt tự truyện, anh ấy đã cùng các bạn tù nhiệt tình đón chị về Đà Nẵng, chăm lo cho chị chu đáo và tổ chức buổi ra mắt cuốn sách với sự tham gia của rất nhiều bạn tù và người thân, bạn đọc. Chị ngồi xe lăn, gương mặt rạng rỡ, nước mắt chảy dài vì hạnh phúc, xúc động. Thời gian trôi qua, những người chiến sĩ quả cảm ngày ấy bên bờ sông Thu Bồn, giờ đã thành ông, thành bà. Trước mặt các bạn tù, anh bồi hồi nhắc lại kỷ niệm ngày xưa. Chị Phương như sống lại cái thuở ban đầu cảm xúc tình yêu trai gái ươm mầm giữa mưa bom bão đạn: “Anh này cũng kỳ ghê. Ngày đó đến một cái nắm tay cũng chưa có, vậy mà dám viết thư ký tên là Lang quân”. Ở cái tuổi bên kia sườn dốc cuộc đời, có được những khoảnh khắc hội ngộ ăm ắp kỷ niệm ấy, thật đáng quý.

Trong ký ức của các bạn tù, chị Phương là một cô gái rất đẹp. Trong căn phòng của chị có một bức ảnh chị chụp từ thời con gái, trước khi bị địch bắt. Cô gái trong ảnh đẹp thanh thoát, thông minh và kiêu sa. Nét xuân sắc ấy đã lùi xa, rất xa, nhưng vẫn còn đó đôi mắt to tròn trong sáng, nụ cười tươi tắn lạc quan trên gương mặt của người nữ thương binh hạng 1/4 hôm nay.

Trần Duy Phương mồ côi cha từ năm 10 tuổi. Cha chị tham gia hoạt động cách mạng, bị địch bắt và hy sinh trong tù. Tình cảm yêu thương và hình ảnh bất khuất của người cha đã dẫn đường cho chị đi theo kháng chiến. Xinh đẹp, lại hát hay, vào tuổi thiếu nữ theo Quân giải phóng trên quê hương đất Quảng, chị đã khiến biết bao trái tim của các chàng trai thổn thức. Khởi đầu bằng công tác dạy học, làm kế toán kiêm quản lý ấn chỉ ở Ban Kinh tài tỉnh, chị được điều động về làm công tác tuyên huấn ở Ban Tuyên huấn huyện Quế Sơn. Công việc nào chị cũng hoàn thành xuất sắc và thường xuyên nhận được sự quan tâm đặc biệt của nhiều nam đồng chí. Chị như con chim họa mi, như đóa hoa rừng tinh khôi, chưa kịp một lần hò hẹn lứa đôi thì vào tháng 10-1968, chị bị địch bắn trọng thương và bị bắt trong một trận càn khốc liệt. Những phát đạn của kẻ thù cùng những trận đòn tra tấn trong tù ngục đã khiến đôi chân của chị bị tê liệt. Chị khai tên là Trần Thị Mai để che giấu tung tích nhằm bảo vệ an toàn cho đồng đội và tổ chức cách mạng. Trong tù, Trần Thị Mai đã đem tiếng hát của mình phục vụ bạn tù, lấy tiếng hát làm vũ khí tinh thần chống lại xiềng xích, đòn roi, súng đạn, thức tỉnh lương tri của những kẻ lầm đường lạc lối làm tay sai cho địch. Chị bộc bạch trong tự truyện trong những ngày địch đưa chị ra nằm bệnh xá điều trị vết thương: “Tôi chọn những bài hát có âm điệu dân ca miền Trung: Người con gái sông La, Quảng Bình quê ta ơi, Tiếng hò trên đất Nghệ An, Tiếng hát trên đường quê hương, Tiếng đàn Ta-lư... Điều thật lạ là khi cố tình hát cho đám y tá bệnh xá nghe, tôi lại hát hay, hát khỏe hơn. Tôi nhớ có lần khi tôi hát xong bài Quảng Bình quê ta ơi, thằng Nho nói với đám y tá: “Con Mai hát bài gì mà nghe 3 ngày mới hết”. Nghe hắn nói mà tôi tức cười…”.

Góc sáng tác văn học của chị Phương trong căn gác nhỏ tháng 9-2013.

Năm 1973, chị cùng các bạn tù được trao trả tự do. Ngày đoàn viên, chị vẫn nhận được hoa và những bài thơ gửi gắm trong đó những tình cảm sâu kín. Nhưng chị chỉ đón nhận như một người em gái cảm nhận tình cảm của những người anh dành cho mình. Dẫu trái tim chưa bao giờ nguôi nhịp đập thổn thức trước ngưỡng cửa tình yêu đôi lứa, nhưng thân thể bại liệt khiến chị tự nhủ, không cho phép mình trở thành gánh nặng của bất cứ người nào. Ký ức chiến tranh với bao mất mát, hy sinh ngày một lùi xa, nhưng chị vẫn phải ngày đêm gồng mình chống chọi với những cơn đau đớn hành hạ thân xác do di chứng. Đã hơn một lần những người thân thích ruột thịt của chị chuẩn bị những phần việc cuối cùng để tiễn biệt chị khi bệnh tật, thương tích đã đẩy sự sống của chị về phía mong manh, nhưng thật kỳ lạ, như có một phép màu nào đó giúp chị hồi phục, trở về từ cõi chết.

Trở về cuộc sống đời thường, những người bạn tù đất Quảng vẫn sẻ chia, đùm bọc, yêu thương nhau như thuở nào. Có những sự sẻ chia, hy sinh vì hạnh phúc của nhau mà khi nói ra, nếu không phải là người trong cuộc, không mấy ai tin đó là sự thật. Bạn đọc sẽ được biết những câu chuyện cảm động có một không hai về nghĩa vợ chồng, tình đồng chí của những cựu nữ tù đất Quảng trong Sự kiện và Nhân chứng số tới.

Chị đã đi đến tận cùng hy sinh, tận cùng đau đớn, tận cùng nghị lực sống… để chiến đấu cho lý tưởng cách mạng và chiến đấu với thương tích, bệnh tật, nhưng có một điều mãi mãi như thuở sinh ra, đó là đời con gái trinh nguyên. Tình yêu lứa đôi của chị đã quyện hòa trong tình đồng đội, tình yêu quê hương, đất nước. Chị trải lòng mình cùng những trang viết như một cách để giãi bày nỗi tâm giao.

Dạo này, căn gác nhỏ bên bờ kênh của chị hằng ngày có nhiều người tìm đến. Đó là những nhà văn, nhà thơ, các bạn tù, có cả những bạn đọc trẻ tuổi. Chị coi đó là niềm hạnh phúc lớn lao của mình. Vào dịp cuối tuần, chị gượng mình trên đôi nạng gỗ hoặc trên xe lăn, vào bếp làm những món ăn xứ Quảng để đãi bạn bè. Khi tôi ra về, chị dặn đi dặn lại: “Chiều thứ bảy đến đây ăn bánh xèo miền Trung nhé. Có cả mấy cô viết văn trẻ cũng có mặt đấy”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn