Bài viết

ĐIỂM TỰA GIỮA ĐỜI THƯỜNG

Quảng Ngãi27/10/2026Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Bắc Khánh Vĩnh (Xã Bắc Khánh Vĩnh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Có những con người đã đi qua chiến tranh bằng tất cả máu lửa và những năm tháng thanh xuân đẹp nhất. Khi tiếng súng lùi xa, họ trở về với đời thường, mang theo những vết thương vĩnh viễn trên thân thể cùng ký ức không bao giờ phai mờ về đồng đội. Nhưng chính từ nghị lực phi thường và đức hy sinh ấy, họ trở thành điểm tựa tinh thần vững chãi cho thế hệ mai sau. Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Hữu Trạc – người chiến sĩ kiên cường của đảo tiền tiêu Cồn Cỏ – chính là một con người như thế.

Tuổi trẻ của ông gắn liền với “chiến hạm thép không bao giờ chìm” giữa tọa độ lửa Vĩnh Linh. Trong những năm tháng đế quốc Mỹ điên cuồng dội bom bão đạn hòng san phẳng đảo Cồn Cỏ, người chỉ huy pháo binh Lê Hữu Trạc cùng đồng đội đã kiên cường bám trụ từng tấc đá, ghìm đầu máy bay và tàu chiến giặc. Trong một trận chiến khốc liệt, sức ép ngút trời của bom đạn cùng mảnh pháo oan nghiệt đã cướp đi hoàn toàn ánh sáng của đôi mắt ông, buộc ông phải mang đôi mắt giả suốt đời.

Ở tuổi 28, khi bản lĩnh người lính đang độ chín muồi, ông buộc phải rời trận địa lui về tuyến sau điều trị với tỷ lệ thương tật hạng đặc biệt (thương binh 1/4). Mất đi ánh sáng, mất đi cơ hội tiếp tục sát cánh cùng đồng đội nơi đầu sóng ngọn gió, nỗi buồn đau từng có lúc như ghì chặt lồng ngực người lính trẻ.

Thế nhưng, giữa những ngày tháng tưởng như tăm tối nhất, cuộc đời đã trao cho ông một điểm tựa kỳ diệu. Tại Trại an dưỡng thương binh Ba Vì, ông gặp cô gái quê xứ Đoài (Hà Tây) Kim Thị Mão. Cảm phục trước người lính Quảng Bình quả cảm, kính trọng một tâm hồn kiên cường dù mang thương tật nặng nề vẫn vẹn nguyên chất thép Bộ đội Cụ Hồ, cô thôn nữ nết na đã dành trọn cho ông tình yêu chân thành, son sắt. Bỏ qua mọi âu lo về gánh nặng chăm sóc một người mù lòa cả đời, cô đã nhận lời kết duyên cùng ông, chứng minh vẻ đẹp rạng ngời của người lính “tàn nhưng không phế”.

Tình yêu ấy đã thắp lại ánh sáng trong tâm hồn người cựu binh, tiếp cho ông nguồn sức mạnh vô bờ để bước vào một cuộc chiến mới giữa thời bình. Năm 1972, người con gái Hà Tây dắt tay chồng vượt hàng trăm cây số trở về mảnh đất gió Lào cát trắng xã Xuân Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Bên dòng Kiến Giang, đôi vợ chồng thương binh cùng nhau gây dựng tổ ấm giản dị, sớm hôm đồng cam cộng khổ, nuôi dạy con cháu trưởng thành.

Gặp ông hôm nay, điều khiến người ta xúc động khôn nguôi không phải là những tấm huy chương lấp lánh trên ngực áo, mà là sự khiêm nhường và ân tình sâu nặng ông dành cho đồng đội. Trong miền ký ức của người lính mù, hình bóng những người cùng ông chia lửa trên đảo Cồn Cỏ vẫn sống động như mới hôm qua:

  • Đó là Đảo trưởng Trần Văn Thà – người thủ trưởng mẫu mực, kiên cường của lớp lớp chiến sĩ cảm tử;

  • Là những người anh em vào sinh ra tử như Anh hùng Thái Văn A vững vàng trên đài quan sát, Anh hùng Trần Văn Mật kiên cường bên mâm pháo;

  • Và là Đỗ Như Đệ – người liên lạc trẻ tuổi đã anh dũng ngã xuống ngay bên cạnh ông trong một chuyến tuần tra trinh sát.

  • Mỗi cái tên thốt ra là một lần đáy mắt ông rưng rưng. Có người ngã xuống khi tuổi vừa mười chín, đôi mươi; có người chưa kịp gửi một dòng thư về cho mẹ già nơi quê nhà; có người để lại người vợ trẻ và đàn con thơ nheo nhóc. Họ đã hóa thân vào từng rạn đá, từng con sóng Cồn Cỏ để đổi lấy sự bình yên cho đất liền.

    Bởi vậy, mỗi khi nhắc đến danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cao quý, ông chưa bao giờ xem đó là chiến công của riêng mình. Ông luôn nghẹn ngào tâm sự:

    “Danh hiệu Anh hùng của tôi được tô thắm bằng máu của đồng đội. Tôi còn được sống để trở về, được hưởng hòa bình, còn biết bao anh em đã vĩnh viễn nằm lại dưới lòng biển sâu.”

    Một câu nói mộc mạc mà chứa đựng cả nhân cách lớn lao. Phía sau một tấm huân chương là xương máu của tập thể; phía sau sự may mắn của người trở về là sự hy sinh vô bờ của những người nằm lại. Với ông, nhớ về chiến tranh trước hết là đạo lý uống nước nhớ nguồn, là trách nhiệm nhắc nhở thế hệ sau không được phép quên lãng những người đã ngã xuống.

    Nhiều thập kỷ trôi qua, người lính đảo kiên cường năm xưa nay mái đầu đã bạc trắng theo năm tháng. Dù đôi mắt không còn nhìn thấy ánh sáng mặt trời, nhưng tâm hồn ông lại sáng ngời lý tưởng, thấu suốt giá trị nhân sinh. Ông vẫn sống ung dung, thanh thản, không một lời kể công, không một lời oán thán số phận. Bên cạnh ông, người vợ hiền Kim Thị Mão vẫn ngày ngày là đôi mắt, là đôi bàn tay nâng đỡ, cùng ông đi qua trọn vẹn dốc bờ cuộc đời.

    Điểm tựa giữa đời thường đôi khi chỉ giản dị như thế: là cái nắm tay thủy chung của người bạn đời, là mái nhà tranh ấm áp tình làng nghĩa xóm, và là ngọn lửa tri ân đồng đội luôn cháy bỏng trong tim.

    Cuộc đời Anh hùng Lê Hữu Trạc không chỉ là một thiên anh hùng ca thời đạn bom, mà còn là bài học sống động về nghị lực phi thường, tình nghĩa vợ chồng và đạo lý thủy chung trước sau như một. Giữa nhịp sống thời bình hôm nay, câu chuyện của ông chính là điểm tựa tinh thần vô giá – nhắc nhở lớp trẻ biết sống có lý tưởng, biết trân quý từng phút giây hòa bình và biết đứng vững trước mọi thử thách, cám dỗ của cuộc đời.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn