Diễn biến chiến sự trong 3 ngày đầu đánh nhau với địch trong thành phố
Các bộ phận lên núi đã khắc phục khó khăn, gian khổ làm được một số việc đáng kể, phát rẫy trồng màu, khai thông đường ra Thừa Thiên, giúp đồng bào tản cư, tăng gia sản xuất ổn định đời sống.
Trong ngày đầu (20-12-1946) để gỡ thế bao vây, địch tiến đánh ta trên 5 trục lớn: Mũi đánh lên nhà ga, mũi đánh lên cầu vồng, mũi đánh lên đường Con Gà (qua ngã năm), mũi từ nhà máy đèn đánh lên cơ quan Liên kiểm quân sự và mũi từ nhà Morin-surim đánh lên Cổ Viện Chàm, sân bay. Địch tiến đến đâu đều bị quân ta chặn đánh. Quân ta ở trên nhà gác ném lựu đạn xuống đường gây cho địch nhiều thương vong. Tiếng súng, tiếng lựu đạn nổ vang rền trong thành phố, những vật dụng trong nhà như bàn, ghế, giường, tủ... đều được vứt ra đường làm chướng ngại vật.
Đồng bào ta còn lại trong thành phố đều được đưa đi tản cư theo 4 hướng đã chuẩn bị trước: tây bắc Hòa Vang, Cẩm Lệ, Túy Loan, Điện Ngọc.
Trong ngày thứ hai (21-12-1946) địch cố giải tỏa thành phố, còn ta thì ra sức giữ chân địch lại. Về phía tây chúng tiến vào nhà ga, chợ Cồn. Mũi phía nam đánh lên chợ Mới Bình Hòa. Chiến sự diễn ra rất ác liệt. Địch chết rất nhiều, ta thương vong cũng khá. Trong lúc đó pháo địch ở hầm tàu bắn để uy hiếp tinh thần của quân và dân ta.
Qua ngày thứ ba (22-12-1946), địch và ta còn chạm súng ở phía tây thành phố. Chúng tập trung lực lượng đánh lên phía sân bay, gặp Tiểu đoàn 17 chặn đánh rất ác liệt. Sau ngày này, bọn địch ở thành phố đã liên lạc với sân bay, còn ta thì bị dạt ra ngoại vi (từ ngã tư Yên Khê, Nghi An, Phong Lệ xuống phía Đò Xu, An Hải).
Thế là sau 3 ngày kịch chiến, tuy địch đã giải tỏa thành phố và liên lạc với sân bay, song chúng đã bị tổn thất khá nặng. Đó là điều mà địch không lường trước được.
Lúc này thế trận của quân ta bố trí lại như sau: Tiểu đoàn 17 đóng ở Phong Lệ, Nghi An; Tiểu đoàn 18 đóng ở Hòa Mỹ, ngã tư Thanh Khê; Tiểu đoàn 19 chia làm hai bộ phận: một đại đội đóng về phía Đa Phước và một đại đội đóng phía đèo Hải Vân.
Trong thời gian từ 13-12-1946 đến 7-1-1947, ban ngày địch đánh ra phía ngã tư Yên Khê, ta dùng chiến thuật di động phòng ngự địa thế có lợi để chặn đánh địch, tối đến chúng lại rút về thành thì ta lại theo chân địch để tiêu hao sinh lực địch. Có lần ta đã vào nội thành đốt nhà ga, đánh địa lôi diệt xe địch.
Lúc này viện binh của địch đến Đà Nẵng, máy bay của chúng bắt đầu xuất hiện trên mặt trận, đại bác địch ở hầm tàu bắn lên tới tấp, tình hình chiến Sự thêm gay go ác liệt hơn. Tuy thế, trong suốt 16 ngày qua, ta và địch vẫn còn ở thế trận: địch tiến ta lui, địch lui ta tiến.
Để phá thế trận giằng co nói trên và bao vây tiêu diệt quân ta, ngày 7 tháng 11 năm 1947, địch đổ bộ lên vùng Phú Lộc, đánh gọng kìm chặn phía Đa Phước vô Đà Sơn, Đại La, đồng thời ở phía chính diện, chúng mở 3 mũi tấn công ta. Một mũi theo đường quốc lộ tiến lên Hòa Mỹ, một mũi đánh lên Nghi An và một mũi về phía Hòa An. Thế là trước mặt và sau lưng ta đều có giặc. Suốt ngày này, chiến sự diễn ra rất ác liệt, địch tiến vào đều bị ta đánh bật ra. Quân ta giữ vững vị trí chiến đấu cho đến khi được lệnh rút.
Sau trận này, địch đã giải tỏa ngoại vi thành phố, bao gồm: ngã tư Yên Khê, Hòa Mỹ, Phong Lệ, Thạch Nham, núi Phước Tường, Đại La, Đa Phước, Nam Ô, Liên Chiểu, Đồn Nhứt. Bọn địch chiếm giữ ở những nơi này nhằm bảo vệ thành phố đề phòng quân ta đánh vào hậu cứ của chúng, đồng thời chuẩn bị điều kiện đánh ra Thừa Thiên để giải vây cho Huế.
Hàng ngày, địch nống ra đánh lên các hướng Đại La, Thạch Nham, An Ngãi... còn ta thì sau khi rút ra giữ thế chặn địch lại, Tiểu đoàn 17 đóng từ Cẩm Lệ, Thạch Nham, Nghi An, Phước Tường đến Đại La; Tiểu đoàn 18 ở về phía Tùng Sơn, An Ngãi; Tiểu đoàn 19 vẫn đóng phía đèo Hải Vân, Nam Ô, Trung Sơn, Quan Nam. Một mặt ta lợi dụng địa hình lập những phòng tuyến để chặn địch lại, mặt khác, ban đêm ta cho một số bộ phận thọc vào thành phố, khu tây Hòa Vang để tiêu hao sinh lực địch. Sân bay Đà Nẵng bị ta đánh nhiều lần, có lần ta nã đại bác 75 ly thu được của Pháp vào sân bay, gây cho địch một số thiệt hại. Ta còn lợi dụng đường sắt chạy vào sân bay cho đầu máy chạy kéo theo một toa chở quả thủy lôi đã bấm giờ nổ. Nhưng do trình độ kỹ thuật còn non, tính toán chưa chính xác, cho nên chưa đến nơi thủy lôi đã nổ không gây thiệt hại gì cho địch.
Số tự vệ công nhân sau khi rút ra ngoài, đã hình thành một tiểu đoàn đóng phía Đông Sơn, An Lợi và thường đột nhập vào thành phố quấy rối địch. Dân quân du kích ngoại vi thành phố phối hợp với bộ đội diệt trừ một số tên tay sai đắc lực của địch.
Trong thời gian này, đồng bào ở nội thành rút ra và ở vùng Hòa Vang - Điện Bàn đã hăng hái tham gia phá đường, cắt dây điện thoại, tiếp tế cứu thương, ủy lạo bộ đội, v.v... đồng bào còn giúp bộ đội đào giao thông hào, xây dựng công sự dựng chướng ngại vật. Điều đó nói lên, ngay từ đầu, cuộc kháng chiến của ta chống bọn xâm lược Pháp đã mang tính chất nhân dân.
Đi đôi với các hoạt động trên, ta tiếp tục xây dựng các chiến khu ở miền Tây (Trung Man) mở 3 con đường (một liên lạc với Thừa Thiên, một với Hạ Lào và một đi về phía nam tỉnh nhà).
Sau khi đã chiếm được các vị trí phía tây và thành phố Đà Nẵng, hoạt động chủ yếu của địch lúc này là dồn lực lượng thông đèo Hải Vân và giải vây cho Huế. Ngày 17 tháng 2 năm 1947, sau khi được tăng quân, địch tiến đánh Thủy Tú, đổ bộ lên Liên Chiểu, Hải Vân. Về sau địch phải mở thêm một mũi nữa ở phía Lăng Cô đánh trở vào mới giải tỏa được đèo Hải Vân. Ngày 28 tháng 2 năm 1947, Tiểu đoàn 19 do đồng chí Cương chỉ huy đã đánh trận giao thông đầu tiên trên đèo tiêu diệt cả đoàn xe địch.
Ngay sau khi liên lạc với Thừa Thiên, địch huy động hải lục không quân mở cuộc tấn công quy mô nhằm đánh bật ta ra xa thành phố và chiếm vùng đất đai giàu có của tỉnh nhà. Từ tháng 3 năm 1947 đến tháng 6 năm 1947, địch lo củng cố hậu phương, thành lập tòa Đốc lý Đà Nẵng, tổ chức sở mật thám liên bang, ty cảnh sát, lập bang tá ở Hội An, trưởng và phó ban hội tề ở Vĩnh Điện, bắt đồng bào phải đi sửa đường, mua chuộc đồng bào hồi cư. Ta đưa cán bộ trở về củng cố chính quyền, gây lại sự hoạt động của các giới, xây dựng lại dân quân du kích. Các đội biệt động của Hòa Vang, Điện Bàn và dân quân Hội An đã bắt đầu hoạt động.
Còn lực lượng vũ trang của ta, sau khi rút khỏi thế gọng kìm bao vây của địch, thì hình thành một thế trận khác. Tiểu đoàn 17 ở hướng Đại Mỹ (Đại Lộc), Tiểu đoàn 18 lên khúc An Lợi, Phú Túc, Tiểu đoàn 19 rút lên phía Phó Nam, Nam Yên để uy hiếp lại đường đèo Hải Vân và Nam Ô. Hoạt động chủ yếu cua ta lúc này là đánh giao thông. Nhiều trận phục kích đánh xe địch đã diễn ra trên đường Vĩnh Điện - Bình Long. Trận đánh giao thông trên đèo Hải Vân lần thứ hai (23-6-1947) tiêu diệt đoàn xe địch chở đầy lính lê dương trong đó có tên quan năm Roger (chỉ huy miền Trung Đông Dương) vang dội toàn quốc.
Do có thành tích tiêu diệt địch, cho nên quân và dân tỉnh nhà được đồng chí Phạm Văn Đồng đại diện Chính phủ Trung ương tặng lá cờ có thêu 2 chữ “Giữ vững” và Trung đoàn 96 được vinh dự giữ lá cờ đó, vì đã lập được nhiều chiến công.
Đến tháng 8 năm 1947, để tiêu diệt chủ lực ta và đẩy quân ta lên núi, địch tập trung lực lượng tiến công ta trên mấy mũi: mũi tiến lên Phò Nam, Nam Yên; mũi lên phía Ngọc Sơn, Phú Túc, mũi đánh lên huyện Đại Lộc, Hà Nha, qua Phú Gia; mũi từ Tây Nguyên kéo xuống Thạnh Mỹ, Hội Khách; mũi Tây Nguyên về mũi Đại Lộc gặp nhau tại Hội Khách.
Để đối phó lại, ta chủ trương cho một bộ phận vừa đánh vừa rút lên phía Khe Dong, Phú Túc, Phú Buôn, Đồng Nghệ, An Điềm. Bộ phận còn lại thọc sâu vào vùng địch để hoạt động. Một đơn vị nhỏ của Tiểu đoàn 17 từ phía nam sông Thu Bồn rút về Trúc Hà, Đại Lãnh rồi tiến xuống vùng Ái Nghĩa, Phước Hiệp. Một bộ phận nhỏ của Tiểu đoàn 18 thọc xuống phía Túy Loan, Thạch Nham vùng Xuân Thiều, Quan Nam. Trung đoàn 96 đóng phía tây nam Bà Nà.
Các bộ phận lên núi đã khắc phục khó khăn, gian khổ làm được một số việc đáng kể, phát rẫy trồng màu, khai thông đường ra Thừa Thiên, giúp đồng bào tản cư, tăng gia sản xuất ổn định đời sống.
Lúc này, tình hình ở phía nam Thừa Thiên gặp nhiều khó khăn, thi hành chủ trương của Tỉnh ủy, ta đã giúp đỡ tỉnh bạn một số vật dụng cần thiết (quần áo, lương thực, thuốc men...) và nhất là đưa một số cán bộ người gốc Thừa Thiên về quê tham gia chiến đấu.
Khoảng tháng 10 năm 1947, quân số của địch trên chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng có một trung đoàn, chia ra 4 tiểu khu Tùng Sơn, Liên Chiểu, Vĩnh Điện, Ái Nghĩa. Chúng đã bắt đầu đóng một số đồn lẻ và lập tề ở một số nơi.
Lúc này, quân ta cũng chia 2 bộ phận, bộ phận lớn dựa vào rừng núi và vùng giáp ranh từ Phò Nam đến Đại Lộc để hoạt động. Bộ phận còn lại thọc xuống vùng Điện Tiến, Hòa Tiến, Trúc Bàu, Hội Vực… phối hợp với lực lượng bán vũ trang để tiêu hao sinh lực địch và diệt tề trừ gian.


