Bài viết

Đình làng Thượng Điện

Đình làng Thượng Điện thờ tướng quân Đại Lực, được sắc phong là "Càn Hải Đại Lực Tuấn Xuyên Cư Sĩ". Theo thần tích còn lưu tại đình do Đông Các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc thứ nhất (năm 1572), cuối triều Hùng Vương thứ 18, Thục Phán đem quân chiếm nước Văn Lang, thế giặc rất mạnh. Trong tình thế nguy cấp đó, Vua Hùng xuống chiếu khắp nơi tuyển mộ nhân tài ra cứu nước. Bấy giờ ở đạo Sơn Nam, vùng núi Hồng Lĩnh có ông Đại Lực là người tài giỏi, tự nguyện đứng ra cầm quân đánh giặc. N

Hải Phòng13/01/2026Trần Quang Huy (xã Vĩnh Bảo)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

1. Khi đất nước vào thời binh biến

Khi tiếng súng Tây còn vang dội ở Hải Phòng những năm đầu thế kỷ XX, Thượng Điện cũng không còn yên ả. Đêm đêm, dưới ánh đèn dầu leo lét, tiếng họp bàn vọng lên từ hậu cung đình – đó là nơi các bậc hương lý, thầy khóa và trai tráng bí mật tụ họp.

Họ gọi nhau bằng một mật danh:
“Con cháu Thượng Điện giữ lấy đình làng.”

2. Người thủ từ giữ lửa

Ông thủ từ già – người coi đình – là nhân chứng lặng thầm. Mỗi lần nhóm họp, ông đều đứng ngoài bậc thềm, tay lần chuỗi tràng hạt bằng gỗ mít, lắng nghe gió lùa qua mái ngói như tiếng tổ tiên vọng lại.

Ông nói với lớp trẻ:

“Đình không chỉ dựng bằng gỗ lim. Nó dựng bằng xương máu cha ông. Còn đình là còn làng.”

3. Ngày đình thắp đỏ hoa lửa

Một đêm nọ, lính Tây kéo vào Vĩnh Bảo đàn áp. Chúng lục soát từng nóc nhà tìm kẻ chống đối. Trai làng giấu súng săn, gươm giáo trong chính mái đình.

Khi quân giặc áp sát cổng làng, trống đình bỗng vang lên ầm ầm. Chẳng ai biết ai đánh. Một người bảo là thủ từ. Có người thề đã thấy bóng áo chẽn, khăn vấn đầu như lính thời Cảnh Hưng – những người đã mất từ ngàn xưa trở lại giúp làng.

Dân làng kéo nhau theo tiếng trống, lửa đuốc bừng sáng, như hoa lửa nở rộ giữa đêm. Tiếng súng nổ, tiếng hô xung phong dội lên giữa sân đình.

Đêm đó, quân giặc phải rút khỏi Thượng Điện.

4. Dấu tích còn lại

Sáng hôm sau, ông thủ từ già nằm bên trống, hơi thở nhẹ như khói. Người ta hỏi ông lấy sức đâu đánh trống, ông chỉ mỉm cười:

“Ta đánh một hồi thôi. Những hồi còn lại… là của tổ tiên.”

Trên vách đình, người làng tìm thấy dấu tay dính bụi than – in thành hình như bàn tay của những người đã khuất.

5. Đình đứng, làng còn

Từ đó, mỗi dịp hội làng, con cháu Thượng Điện lại rước kiệu quanh đình. Trống đánh ba hồi, như ký hiệu của đêm xưa.

Mái đình cũ giờ đã được tu sửa, nhưng người làng vẫn nhắc nhau:

“Đình Thượng Điện là hồn của đất.
Thời binh lửa giữ làng,
Thời thanh bình giữ gốc.”

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn